Cau

Cau (danh pháp hai phần: Areca catechu), còn gọi là tân lang hay binh lang, là một loài cây trong họ Cau (Arecaceae) được trồng nhiều tại khu vực nhiệt đới châu Á và Thái Bình Dương cũng như ở phía đông châu Phi. Nó là loại cây thân gỗ trung bình, cao tới 20 m, với đường kính thân cây có thể tới 20–30 cm. Các lá dài 1,5–2 m, hình lông chim với nhiều lá chét mọc dày dặc.

Quả cau chứa một lượng lớn ta nanh (tannin), axít galic, tinh dầu gôm, một lượng nhỏ tinh dầu dễ bay hơi, li nhin (lignin), và một loạt các chất muối. Có 4 ancaloit (alkaloid) đã được tìm thấy trong quả cau - Arecolin, Arecain, Guraxin và một chất chưa rõ tên do số lượng quá ít. Arecolin tương tự như Pilocarpin về mặt tác động lên cơ thể. Arecain là chất hoạt hóa chính trong quả cau.

Phân bổ

Areca catechu được trồng vì giá trị kinh tế đáng kể của nó có từ việc thu hoạch quả. Quả cau chứa các ancaloit như arecain và arecolin, khi được nhai thì gây say và có thể hơi gây nghiện. Cau được trồng tại Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác.

Đảo Penang, ngoài khơi bờ biển phía tây bán đảo Mã Lai, được đặt tên theo từ pinang, tên gọi địa phương của cau.

Cây cau được trồng ở các khu vực ấm áp của châu Á để lấy quả khi còn non có màu xanh ánh vàng, kích thước xấp xỉ cỡ quả trứng gà, có chứa hạt kích thước cỡ hạt của quả cây sồi, hình nón với đáy phẳng và màu bên ngoài có ánh nâu; bên trong lốm đốm như hạt nhục đậu khấu. Quả của nó được bổ (hay cắt) thành các lát mỏng cuộn trong lá trầu không và têm vôi thành miếng trầu. Người dùng nhai trầu rồi bỏ bã. Cau, trầu và vôi làm răng và môi người nhai đỏ thẫm. Vị trầu rất nóng và hăng. Quả cau có vị thơm nồng và hăng và có thể gây say khi lần đầu tiên sử dụng nó. Người Đài Loan là những người buôn bán và ăn trầu cau nổi tiếng thế giới. Hàng năm, họ nhập khẩu rất nhiều cau từ Sumatra, Malacca, Thái Lan, Việt Nam. Mo cau có thể dùng làm quạt. Lá cau khô được dùng làm chổi. Cau có khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam, và có mặt hầu hết trong các làng bản Việt Nam. 

Chăm sóc

Cây cau nhân giống bằng cách gieo trái khi chín vàng, sau khi hái trái cau chín 3-5 ngày thì dùng dao bén cắt một lớp mỏng phía đầu vỏ quả xong đem ủ vào đất ẫm, khoảng vài tuần quả cau sẽ nẩy mầm, khi cây cau con cao từ 25-30 cm thì đem ra trồng cây ra đất hay bầu đất.

Cây cau ăn trầu được trồng bố trí thành hàng dọc đường đi, sau hay phía trước sân vườn, hay sát bờ tường nơi dãy đất nhỏ hẹp vì cây cau ít chiếm diện tích đất, có thể trồng một cây phía góc vườn kế bên lu nước nhằm tạo cảnh quan thôn quê gần gũi.

Cây cau ăn trầu ít khi sâu bệnh, không kén đất, trồng cây cau làm cây cảnh thì có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay ánh sáng một phần.

Tùy vào khoảng cách các đốt lá trên thân mà có hai loại cau, loại đốt lá thưa dài cây mọc nhanh là cây cau hay trồng khai thác trái, còn cây cau lùn có đốt lá khít thân cột mập hơn, cây này sinh trưởng rất chậm chiều cao cây thấp, có nơi gọi là cây cau hương.

Tuy nhiên trái cau ít khi giử được đặc tính sinh học của cây bố mẹ do khả năng giao phấn nên có thể cho thế hệ cây cau con thường bị lai giống.

Bệnh

Ít bị sâu bệnh hại cây.

Tác dụng y học

Hoa cau

Trong Đông Y, hoa cau có vị ngọt, tính mát, bổ tim, gan, dạ dày, trị ho, thanh nhiệt, thông khí.

Theo những nghiên cứu của y học hiện đại, hoa cau có chứa vitamin A, C và chất xơ, do đó, cơ sở về việc hoa cau trị bệnh càng được chắc chắn.

Bổ tì, trị đầy bụng, khó tiêu: 4 lạng hoa cau cắt thành đoạn nhỏ, nỏ cuống, ngâm với nước muối, vớt ra để ráo. Lấy 2.5 lạng sườn chặt miếng, trần nước sôi, để ráo.

Cho sườn và hoa cau vào nồi cùng 4 bát nước, đun to lửa cho đến khi sôi, vặn lửa nhỏ để chừng 30 phút, nêm muối cho vừa ăn.

Trị hoa, đau tức ngực, tê đau khớp: 1 lạng hoa cau, hầm cùng thịt lợn, ăn như thức ăn bình thường.

Hạt cau

Hạt cau trong Đông y được đánh giá là có khả năng tiêu tích, lợi thủy, thông khí, diệt khuẩn, trị tiêu chảy, sốt rét, tê phù.
Y học hiện đại chỉ ra rằng trong hạt cau có chứa tanin, alkaloid, giúp diệt giun rất hiệu quả.

Chữa sốt rét: Lấy 2g hạt cau, 1g thảo quả, 4g cát căn, 6g thường sơn. Sắc nước từ 600ml xuống còn 200ml, uống ba lần/ngày.

Chữa đầy bụng, khó tiêu: 10g hạt cau sắc cùng 10g sơn tra, lấy nước uống.

Chữa tê phù, kết đờm: 10g hạt cau, tán thành bột, pha với nước sôi hoặc hãm như hãm chè, uống nhiều lần trong ngày.

Chữa táo bón, tiểu dắt, đai dạ dày: 10g hạt cau, 10 g mạch tiền đông, sắc cùng nhau uống khi còn nóng.

Chữa đau bụng, giun sán, ứa nước miếng trong: 80g hạt cau sắc với nước. Ăn một nắm hạt bí ngô rang chín trước bữa sáng, để 2 tiếng sau, uống nước sắc hạt cau.

Chữa chứng tiểu tiện không thông của phụ nữ sau sinh: hạt cau già, hạt vông vang, hoạt thạch, hoa đào, lấy mỗi loại một lượng bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần uống 8g hỗn hợp trên, pha với rượu.

Rễ cau

Sử dụng rễ trắng của cau, loại rễ non sẽ có tác dụng cường dương sinh tinh. Vị thuốc này tuy quen thuộc nhưng không phổ biến bởi rất ít người biết đến. Lấy 40 đến 60g rễ trắng của cau, sao vàng rồi sắc lấy nước uống.

Giá trị kinh tế

  • Quả Cau được dùng để thờ cúng, là lễ vật trong cưới xin và các ông bà già thường lấy quả ăn trầu nhai cho đỏ môi, thơm miệng, chắc răng.
  • Cây Cau là một loại cây làm cảnh rất đẹp thường được trồng gần nhà, dọc đường đi lại … tạo vẻ đẹp cảnh quan, khuôn viên cho ngôi nhà và tạo bóng mát.
  • Thân cây Cau khi già rất cứng, bền, ít mối mọt, thường dùng làm rui lợp nhà, ngoài ra có thể làm cột giàn che, làm ống dẫn nước.
  • Bẹ (Mo) Cau ngày xưa dùng làm quạt tay để quạt gió cho mát những lúc trời nóng, dùng làm vật để chống nóng tay khi bứng nồi đang nấu trên bếp xuống, dùng làm gáo múc nước.
  • Ruột cây Cau làm môi trường sống cho các loài cây Phong lan sống rất tốt.

Phân loại

+ Dạng cây cau thông thường: cây cao (các đốt dài cách nhau 5 – 10cm); phát triển chiều cao rất nhanh (sau 6 -7 năm cao 7 – 8m).
+ Dạng cây Cau Lùn (các đốt dày sít vào nhau); tốc độ phát triển chiều cao rất chậm (sau 10 – 15 năm cao khoảng 2 – 2,5m).
+ Dạng cây cau cao trung bình (cau lai): Là cây được lai từ 2 dạng cây trên.

Bình luận