Cóc

Cóc Tahiti (danh pháp hai phần: Spondias dulcis, đồng nghĩa: Spondias cytherea) là một loài cây thân gỗ ở vùng nhiệt đới, với quả ăn được chứa hột nhiều xơ. Tại Trinidad và Tobago nó được gọi là Pommecythere.

Quả cóc có thể ăn tươi; lớp cùi thịt dày, cứng, giòn và có vị hơi chua-ngọt. Tại Indonesia và Malaysia, nó được ăn kèm với một loại nước xốt mặn-ngọt màu đen và đặc, gọi là hayko. Nó cũng là thành phần chế biến món rojak, một món xà lách rau quả trong ẩm thực ở Malaysia, Singapore và Indonesia. Nó cũng thể được dùng để làm nước quả.

Phân bổ

-Về nguồn gốc phát sinh:

Có 3 giả thuyết:

1-Giả thuyết thứ nhất cho là Chi Cóc có hai nguồn gốc Phát sinh:

Nguồn gốc phát sinh thứ nhất ở Đông Nam Á và nguồn gốc thứ hai ở Nam Mỹ.
Giả thuyết này ít được chấp nhận vì các loài cùng 1 Chi không thể có hai nguồn gốc phát sinh ở hai vùng địa lý rất xa nhau.

2-Giả thuyết thứ hai cho là Chi Cóc phát sinh từ Nam Á, sau đó di chuyển sang vùng Đông Nam Á rồi đến các đảo Thái Bình Dương và cuối cùng đến Nam Mỹ.

3-Giả thuyết thứ ba cho là Chi Cóc có xuất xứ từ vùng Melanesia- Polynesia (Châu Đại dương) và sau đó được du nhập để trồng tại các vùng nhiệt đới của cả Cựu lẫn Tân Thế giới.

Giả thuyết thứ 3 được nhiều người công nhận hơn do có những bằng chứng về con đường du nhập của các loài trong Chi này.
Theo giả thuyết cuối cùng cho biết:

  • Tại các đảo Thái Bình Dương vẩn có các loài hoang dại không có quả ăn được vẩn tồn tại nên không thể là những loài được du nhập từ nới khác đến.
  • Cây khá phổ biến tại Mã Lai (cây trồng trong vườn), Ấn độ, Tích Lan.. Quả cóc được bán khắp các chợ Việt Nam từ trước thời Pháp thuộc. Ở các nước này không rõ các loài cây Có được du nhập từ lúc nào.
  • Ở Nam Mỹ cây cóc thường (S. dulcis) xuất xứ từ Melanesia di chuyển qua Polynesia (Ở Thái Bình Dương) được đưa đến Jamaica vào năm 1782, và 10 năm sau Thuyền trưởng Bligh đã đưa thêm vào đây một giống cây Cóc khác, gốc từ Hawaii. Cây cóc thường cũng được trồng tại Cuba, Haiti, Cộng hòa Dominican, nhiều nước Trung Mỹ, Venezuela.
  • Ở Hoa Kỳ: Bộ Canh nông Hoa Kỳ đã nhập hạt giống Cóc từ Liberia vào năm 1909 (tuy nhiên, theo Wester thì cóc đã được trồng tại Miami (Florida) từ 4 năm trước đó). Năm 1911, một số hạt giống khác đã được gửi từ Queensland (Úc) sang Washington. Hiện nay cây cóc đang được trồng và phát triển tại Florida.
  • Cây cóc thường (S. dulcis)  được nhập vào Philippines từ 1915, sau đó dược giới thiệu trồng tại Queensland (Úc).
  • Cây Có Thái (Spondias lutea L. = Spondias mombin L.) do dược thuần hóa, chọn lọc, theo hướng thâm canh nên có quả to, năng suất cao, chất lượng tốt nên trong vài thập kỷ trở lại đây được giới thiệu trồng làm cây cảnh và cây ăn quả trên vùng nhiệt đới khắp thế giới, trong đó có Việt Nam.
  • Ở Florida (Hoa Kỳ) có trồng cả cây cóc Miền Nam Việt nam (S. dulcis) và cây có Thái (Spondias mombin) nên các kiều bào Đông Nam Á sống ở Mỹ hiện nay vẩn thưởng thức được quả cóc Á Châu.

Chăm sóc

* Thời vụ trồng

Cóc được trồng quanh năm nhưng tốt nhất là vào đầu mùa mưa. Tuy nhiên, nếu trồng với lượng ít ta có thể trồng vào nhiều thời vụ khác nhau, miễn là phải tránh thời điểm nắng nóng và rét đậm và sau khi trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây.

* Mật độ trồng

Tùy độ màu mỡ của đất mà có thể trồng với khoảng cách 7-9m (hình vuông hay hình nanh sấu), 6,5-7m. Vùng đất cao có thể trồng th­ưa hơn vì tuổi thọ lâu, cây cho tán lớn. Nhìn chung, Cóc thư­ờng đư­ợc khuyến cáo trồng với khoảng cách 9-15m.

* Làm đất, bón lót và trồng cây

Khi đào hố,  lớp đất mặt được để riêng một bên, bón lót mỗi hố 50 kg phân chuồng đã ủ hoai mục, 1,5 – 2 kg super lân. Trộn đều phân với lớp đất mặt, cho xuống 3/4  hố. Sau đó lấp đầy hố bằng lớp đất phía dưới, để giúp cho rễ cây phát triển thuận lợi ở giai đoạn đầu, cải thiện độ phì của lớp đất đáy hố tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt.

* Chăm sóc sau trồng

Thời kỳ cây còn nhỏ, được 1-3 năm tuổi, cây sinh trưởng mạnh hầu như quanh năm để hoàn thiện bộ khung tán. Chính vì vậy, việc cung cấp đủ phân, đủ nước, diệt trừ cỏ dại thường xuyên để tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng là rất cần thiết.

– Tưới nước: Trong thời kỳ cây còn nhỏ cần tưới nước quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần. Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc, dùng rơm rác mục, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc.

– Làm cỏ: Làm cỏ cần tiến hành thường xuyên, tùy theo đặc điểm của từng vùng ta có cách thức xử lý cỏ phù hợp khác nhau, phơi khô cỏ sau đó tủ lại xung quanh gốc cây.

* Bón phân

– Giai đoạn cây tơ: Hàng năm nên bón từ 200-400g phân NPK 16-16-8 và khoảng 200g phân urê/cây, chia ra làm 2 lần bón vào đầu và cuối mùa mưa. Ngoài ra, nên bón bổ sung từ 1-3 kg phân KOMIX chuyên dùng cho cây ăn trái để bổ sung chất hữu cơ cho đất giúp cây Cóc phát triển ổn định.

– Giai đoạn cây trưởng thành: Bón tối thiểu từ 2-5kg/cây loại phân NPK 16-16-8 và từ 3-4kg phân KOMIX, chia đều 2 lần bón vào đầu mùa mưa và vào tháng 9-10 dương lịch. Sau những năm trúng mùa cần tăng lượng phân bón để hồi sức cho cây.

Bệnh

  • Bệnh thán thư: Bệnh làm thối đen hoa, rụng hoa, thối đen trên quả. Dùng Benlat C hoặc Score 250 EC phun từ khi hoa nở đến 2 tháng sau với 1lần/tuần, sau đó 1lần/tháng.
  • Bệnh phấn trắng: Xâm nhiễm và gây hại lá, hoa, quả đặc biệt là hoa và chùm hoa. Dùng Rhidomila MZ 72WP, Anvil 5SC…
  • Bệnh muội đen: Do bài tiết của rệp, dùng: Bassa 50 EC, Trebon 2,5 EC và có thể phun các loại thuốc trừ nấm có gốc đồng…
  • Bệnh cháy lá: Bệnh phát triển trong mùa mưa, gây hại chủ yếu trên lá. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ lá bệnh, phun thuốc Rhidomil MZ 72 WP, Kasumin 2L…
  • Sâu đục thân, cành: Dùng bẫy đèn bắt sâu trưởng thành, tiêm vào lỗ những loại thuốc có tính xông hơi mạnh hoặc nội hấp như: Actara 25 WG, Padan 95SP, bịt lỗ bằng đất sét để diệt sâu non.
  • Rầy xanh: Rầy tiết dịch gây bệnh mùa nóng, làm Cóc kém phát triển. Thời gian hại mạnh từ tháng 10 năm trước đến tháng 6 năm sau. Dùng Bassa 50 EC, Trebon 2,5 EC, …
  • Ruồi đục quả: Ruồi đục vào quả lúc vỏ quả già, đẻ trứng dưới lớp vỏ, sâu non ăn thịt quả gây thối, rụng quả. Dùng Sherpa 25 EC, Lục Sơn 0,26 DD, Padan 95 SP.

Tác dụng y học

1. Giảm cân 

Chất béo trong quả cóc là loại chất béo có lợi cho cơ thể nên sẽ không có vấn đề nguy cơ béo phì khi ăn và ới lượng đường tự nhiên ít, chất xơ và protein cao, quả cóc còn là loại trái cây lý tưởng trong những thực đơn ăn kiêng giảm cân. Không chỉ được sử dụng tươi sống mà còn có thể chế biến thành nững món ăn như salad, nộm hay nước sốt cho các món khác.

Là loại trái cây có vị chua chua ngọt ngọt nên ít gây ngán đối với nguồi thưởng thức. Bạn nên bổ sung cóc trong thực đơn ăn kiêng của mình thêm phong phú để giảm cân hiệu quả hơn nhé. 

2. Trị cảm cúm, đau họng 

Trong 100g thịt của loại quả này chứa tới 42mg acid ascorbic, ngoài ra còn có nhiều chất sắt (Fe). Nhờ vậy, cóc có tác dụng tăng sức đề kháng cho người bị cảm cúm. Bên cạnh đó, khi nhai thật kỹ quả cóc với chút muối rồi nuốt dần còn giúp trị đau hầu họng. Hoặc chỉ cần chấm thịt quả cóc với muối, nhai thật kỹ, nuốt từ từ là sẽ hết đau họng. 

3. Trị tiêu chảy 

Từ lâu vỏ cây cóc được dùng làm nguyên liệu trong bài thuốc trị tiêu chảy. Hiện, Đông y vẫn dùng và cho hiệu quả tốt. Đó là lấy vỏ cây cóc và vỏ cây chiêu liêu nghệ sắc uống. Lấy khoảng 4 miếng vỏ cây của 2 loại, mỗi miếng bằng ngón tay cái, nấu với 750ml nước còn 250ml, chia làm 3 lần uống trong ngày, sẽ giảm nhanh bệnh tiêu chảy.

4. Hỗ trợ điều trị tiểu đường 

Quả cóc còn có tác dụng làm giảm đường trong máu đối với người bị tiểu đường tuýp II (tức là loại tiểu đường do chế độ ăn uống quá nhiều chất có đường và tinh bột sinh ra). 

Cách dùng: Quả cóc chín vứt bỏ hạt, số lượng không hạn chế, bổ nhỏ sấy hay phơi khô, tán thành bột mịn, để dành (chú ý tránh ẩm mốc bằng cách thỉnh thoảng đổ ra sao qua hay phơi). Mỗi ngày 3 thìa, mỗi lần 1 thìa, dùng trước các bữa ăn sáng, trưa, chiều chừng 30-40 phút. Sau 1-2 tháng thử lại đường máu 1 lần, nếu nồng độ trở lại bình thường thì có thể giảm số lần uống còn 2 lần/ngày (sáng, chiều). 

5. Trái có làm đẹp da hiệu quả 

Nhiều chất sắt giúp da dẻ hồng hào. Một phần ăn gồm 100g cóc sẽ cung cấp khoảng 3,2 mg sắt, đáp ứng 18% lượng chất sắt cho cơ thể mỗi ngày. Chất sắt rất cần thiết cho sự vận chuyển ôxy và tạo ra các tế bào máu trong cơ thể. Nếu bạn bị thiếu máu thì nên thường xuyên bổ sung nhiều sắt từ trái cóc.

6. Tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa ung thư 

Vitamin C trong cóc là chất chống ôxy hóa mạnh, giúp bảo vệ cơ thể chống lại các gốc tự do gây hại, làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư, hỗ trợ hấp thụ chất sắt, tổng hợp collagen và protein để tạo thành các mô liên kết với nhau, giúp chữa lành vết thương và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Giá trị kinh tế

Nhờ tích cực tìm hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp, gia đình anh Nguyễn Thanh Bình ở thôn Tiên Tảo, xã Thanh An (Thanh Hà) đã giàu lên từ cây cóc.

Trước đây vợ chồng anh Bình vốn làm nghề buôn bán. Tuy nhiên, do nặng lòng với đồng đất quê nhà, năm 2011 anh đã từ bỏ công việc mang lại thu nhập ổn định để về quê lập nghiệp. Anh Bình cho biết: “Lúc đầu, tôi dự định sẽ trồng cây ăn quả truyền thống như ổi, vải, chanh... Tuy nhiên, có thời điểm những loại cây này giúp nông dân ăn nên làm ra nhưng cũng có lúc phải lao đao do thị trường đã bão hòa. Với suy nghĩ đó, tôi quyết định tìm hiểu và trồng thử nghiệm giống cây mới. Quả cóc tuy chỉ để chế biến các món ăn vặt nhưng nhu cầu sử dụng trong các quán ăn, nhà hàng rất lớn. Chính vì vậy, sau khi nghiên cứu qua sách báo, mạng internet, tôi đã lên Học viện Nông nghiệp Việt Nam mua cây giống mang về trồng thử ở vườn nhà". 

Lúc đầu anh Bình trồng 200 cây cóc với mức đầu tư 70.000 đồng/cây bao gồm cả chi phí phân bón lót. Tuy đã có chút kiến thức về cây giống và cách thức chăm bón nhưng anh vẫn phải chặt bỏ hơn 40 cây do cây không ra quả, các cây còn lại chậm phát triển, nhiều sâu bệnh. Theo anh Bình, cây cóc thích hợp với khí hậu nóng ẩm nên thời tiết nóng lạnh thất thường của miền Bắc là nguyên nhân khiến cây không đạt hiệu quả như mong muốn. Mặc dù vậy, vợ chồng anh vẫn không nản lòng và quyết tâm tìm cách tháo gỡ.  Chị Phạm Thị Cúc, vợ anh Bình chia sẻ: “Làm nông nghiệp phải chấp nhận rủi ro. Dù thất bại bước đầu nhưng chúng tôi có thêm nhiều kinh nghiệm. Để khắc phục khó khăn, vợ chồng tôi liên hệ mua giống tại Vĩnh Long, nơi cây cóc phát triển mạnh. Đồng thời, tìm biện pháp điều tiết lượng nước tưới để giữ ẩm cho cây vào mùa hè, giữ ấm vào mùa đông”. 

Sau khi tính toán, vợ chồng anh đầu tư hệ thống tưới nước bán tự động có thể tưới cho cây thường xuyên để cây không phát sinh sâu bệnh làm rụng quả. Anh chị lựa chọn giống cóc Thái Lan có thể cho quả quanh năm dù mất nhiều công chăm sóc. Sau 10 tháng, cây cho thu hoạch. Thời gian đầu, anh Bình cũng phải loay hoay tìm đầu ra vì đây là loại quả mới, lại kén người mua. Sau một thời gian tự trồng, tự bán, mọi người biết tới sản phẩm của anh chị nhiều hơn. Không chỉ những khách hàng nhỏ lẻ mà nhiều thương lái ở các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn... cũng tìm tới đặt hàng với số lượng lớn. Hiện tại, anh chị có hơn 1.000 cây cóc trồng gối nhau trên diện tích vườn gần 1,5 ha để thuận tiện cho việc thu hái theo từng đợt. Vào chính vụ, anh Bình thu hơn 2 tấn cóc/ngày. Với giá bán từ 15.000 - 25.000 đồng/kg, gia đình anh thu lãi hơn 400 triệu đồng/năm, đồng thời tạo việc làm cho 2 lao động địa phương với thu nhập 3 triệu đồng/người/tháng.

Phân loại

Theo Hệ thống phân loại APG III (2009), Họ Xoài/Đào lộn hột (Anacardiaceae) chứa khoảng 70 chi với khoảng 600 loài. Đôi khi Họ Xoài được chia thành hai phân họ là Phân họ Xoài (Spondoideae hay Spondiadaceae) với khoảng 10 chi và 115 loài và  Phân họ Đào lộn hột (Anacardioideae) với khoảng 60 chi và 485 loài.

Chi Cóc (Spondias) thuộc Phân họ Xoài (Spondoideae). Chi này gồm 17 loài được mô tả, trong số đó có 10 loài tìm thấy ở vùng nhiệt đới Châu Á và 7 loài tìm thấy  ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ.

Trong số 17 loài cây Cóc được tìm thấy, có 10 loài có lá và quả ăn được, được thuần hóa để trồng ở vùng nhiệt đới Châu Á và Nam Mỹ. Trong đó có các loài quan trọng là:

  • 1-Cóc thường hay Cóc trồng Việt Nam (Spondias dulcis L.).
  • 2-Cóc Thái (Spondias lutea L. = Spondias mombin L.).
  • 3-Cóc chua Ấn  Độ hay Cóc rừng (Spondias pinnata).

Cả ba loài này có giá trị dinh dưỡng và dược liệu gần giống như nhau.

Bình luận