Dứa (thơm, khóm)

Dứa, thơm hay khóm (có nơi gọi là khớm) hoặc trái huyền nương, tên khoa học Ananas comosus, là một loại quả nhiệt đới. Dứa là cây bản địa của Paraguay và miền nam Brasil.

Quả dứa thực ra là trục của bông hoa và các lá bắc mọng nước tụ hợp lại. Còn quả thật là các "mắt dứa". Quả dứa được ăn tươi hoặc đóng hộp dưới dạng khoanh, miếng hoặc đồ hộp nước dứa, hoặc nước quả hỗn hợp.

Dứa có các lá gai mọc thành cụm hình hoa thị. Các lá dài và có hình dạng giống mũi mác và có mép lá với răng cưa hay gai. Hoa mọc từ phần trung tâm của cụm lá hình hoa thị, mỗi hoa có các đài hoa riêng của nó. Chúng mọc thành cụm hình đầu rắn chắc trên thân cây ngắn và mập. Các đài hoa trở thành mập và chứa nhiều nước và phát triển thành một dạng phức hợp được biết đến như là quả dứa (quả giả), mọc ở phía trên cụm lá hình hoa thị.

Quả dứa có hàm lượng axit hữu cơ cao (axit malic và axit xitric).

Dứa là nguồn cung cấp mangan dồi dào cũng như có hàm lượng Vitamin C và Vitamin B1 khá cao.

Một tài liệu khác cho biết: Trong 100g phần ăn được cho 25 kcal, 0,03 mg caroten, 0,08 mg vitamin B1, 0,02 mg vitamin B2, 16 mg vitamin C (dứa tây). Các chất khoáng: 16 mg ca, 11 mg phospho, 0,3 mg Fe, 0,07 mg Cu, 0,4g protein, 0,2g lipit, 13,7g hydrat cacbon, 85,3g nước, 0,4g xơ..

Trong quả dứa có chứa enzym bromelain, có thể phân huỷ protein. Do vậy, quả dứa được sử dụng trong chế biến một số món ăn như thịt bò xào, thịt vịt xào để giúp thịt nhanh mềm và tạo hương vị đặc trưng.

Phân bổ

Thuộc về họ Dứa (Bromeliaceae). Được biết đến nhiều nhất là loài Ananas comosus, là loại dứa cho quả ăn được.

Chi này có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ và được đưa tới các đảo khu vực Caribe nhờ những thổ dân Anh điêng Carib. Năm 1493, Christopher Columbus lần đầu tiên đã nhìn thấy các loại cây của chi này tại Guadeloupe. Nó được đưa sang châu Âu và từ đây nó được người Anh và Tây Ban Nha phát tán tới các đảo trên Thái Bình Dương. 

Các cánh đồng trồng dứa thương phẩm được thành lập tại Hawaii, Philippines, Đông Nam Á, Florida và Cuba. Dứa đã trở thành một trong những loại cây ăn trái phổ biến nhất trên thế giới. 

Từ Ananas có nguồn gốc từ tiếng Guarani để chỉ cây dứa.

Tại Việt Nam, dứa được trồng khá phổ biến, phân bố từ Phú Thọ đến Kiên Giang. Tiền Giang là tỉnh có sản lượng dứa đứng đầu cả nước. Năm 2007, sản lượng dứa của tỉnh Tiền Giang đạt 161.300 tấn. Tiếp theo là Kiên Giang (85.000 tấn), Ninh Bình (47.400 tấn), Nghệ An (30.600 tấn), Long An (27.000 tấn), Hà Nam (23.400 tấn), Thanh Hoá (20.500 tấn). 

Tổng sản lượng cả nước năm 2007 đạt 529.100 tấn[6]. Nhiều địa phương xây dựng thương hiệu đặc sản quả dứa như dứa Đồng Giao (Tam Điệp - Ninh Bình), hoặc ở Kiên Giang, Tiền Giang đều có những nhà máy chuyên sản xuất, chế biến các thực phẩm từ quả dứa.

Chăm sóc

1. Thời vụ trồng

Thời vụ trồng dứa thích hợp ở mỗi vùng phụ thuộc và điều kiện khí hậu có liên quan đến chất lượng chồi giống và thời gian ra hoa.

Ở miền Bắc có 2 thời vụ trồng chủ yếu là vụ xuân (tháng 3-4) và vụ thu (tháng 8-9).

Trồng vụ xuân cây sinh trưởng gặp thời tiết ấm áp, có mưa, thuận lợi cho việc tích lũy dinh dưỡng để ra hoa sớm và cho quả to.

Trồng vụ này nên trồng những chồi gia và lớn, cuối năm có thể ra hoa thuận lợi.

Nếu trồng chồi non và nhỏ, cây cũng ra hoa nhưng không đều và quả nhỏ.

Trồng vụ thu thời gian đầu thuận lợi cho sinh trưởng, nhưng sau đó gặp mùa đông lạnh cây tạm ngừng sinh trưởng, một số chồi già có thể ra hoa nhưng quả nhỏ.

Vì vậy trồng vụ này nên trồng chồi non để năm sau ra hoa tốt hơn.

Trồng vụ thu có thuận lợi là số lượng chồi giống thưuởng nhiều hơn vụ xuân.

Ở miền Nam nên trồng vào đầu mùa mưa, từ tháng 4-6.

đến cuối năm cây lớn gặp thời tiết tương đối khô và lạnh, ngày ngắm, cây ra hoa thuận lợi và thu hoạch quả vào tháng 5-6 năm sau.

Riêng ở miền Trung nên trồng vào 2 thời gian là tháng 4-5 vào tháng 10-11.

tồng các tháng 6-8 do ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng nên cây sinh trưởng chậm, cần phải chăm bón kỹ hơn.

2. Chọn đất và làm đất trồng

Đất trồng dứa cần có kết cấu nhẹ, đảm bảo thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp và hơi dốc.

Với yêu cầu này, các vùng đồi thoai thoải của trung du phía Bắc và Đông Nam Bộ được coi là vùng đất lí tưởng cho cây dứa.

Ở đồng bằng sông Cửu Long độ cao so với mặt biển thấp, mặt đất gần mạch nước ngầm, lại chịu ảnh hưởng của quá trình phèn hóa nên muốn trồng dứa tốt phải đào mương lên líp cao, tốn đất và tăng chi phí.

Ngoài ra cần chú ý độ chua của đất.

Nhóm dứa Cayen ít chịu chua hơn các nhóm Queen và Spanish.

Vì vậy đất quá chua (pH dưới 5) nếu muốn trồng dứa Cayen phải bón vôi.

Ở vùng đồi có độ dốc cao nên trồng thành hàng theo đường đồng mức.

Ở dưới mỗi hàng dứa có thể trồng một hàng cây cốt khí hoặc muồng để hạn chế xói mòn đất, che bóng cho quả khỏi rám nắng và góp phần cải tạo đất.

Việc làm đất có thể là cày xới toàn bộ diện tích hoặc theo từng hàng.

Nếu phải đào mương lên lớp thù trồng theo từng hốc nhỏ.

Một công việc tương đối khó khăn khi làm đất là phá hủy cây dứa cũ để trồng lại đợt khác.

Khối lượng thân lá dứa tương đối lớn, từ 100-200 tấn/ha, lại có nhiều xơ, khó tiêu chảy diện tích ít có thể dùng dao băm thành từng đoạn nhỏ rải xuống ruộng để làm phân.

Diện tích lớn phải dùng máy bừa có răng đĩa đê băm chặt cây.

Ở các nông trường có diện tích trồng lớn, người ta thiết kế lô trồng theo kiểu bàn cờ, có trục đường chính cho xe cơ giới và hệ thống đường ngang cho xe thô sơ và người đi.

3. Xử lý chồi

Xử lý chồi nhằm mục đích cho cây mau bén rễ phát triển và phòng ngừa sâu bệnh.

Trước khi trồng cắt bỏ các lá khô ở gốc.

Nhúng ngập 1/3 chồi từ phía gốc vào dung dịch thuốc sâu Pyrinex, Basudin, Vomoca, Oncol,… để phòng trừ rệp và tuyến trùng hại rễ.

Hoặc ngâm chồi trong nước nóng 550C (3 sôi + 2 lạnh) trong 15-20 phút.

4. Khoảng cách và mật độ

Để dễ đi lại chăm sóc và thu hoạch, dứa thường được trồng theo hàng kép, tức là trồng thành từng băng 2 hàng một.

Khoảng cách giữa các băng khoảng 80 cm, giữa 2 hàng trên băng là 40cm, trên hàng cây cách nhau 30 cm, với cách trồng và khoảng cách này, mật độ khoảng 55.000 cây/ha.

Để tăng mật độ trên 60.000 cây/ha, trên một băng có thể trồng 3 hàng, khoảng cách giữa các hàng cũng là 40 cm.

tuy vậy do có 3 hàng nên việc làm cỏ khó khăn hơn và quả ở hàng giữa thường nhỏ hơn 2 hàng bên.

Ở đồng bằng sông Cửu Long trồng theo từng líp nên thường không chia thành băng mà trồngg khoảng cách cây đều nhau, khoảng 50-60 cm, mật độ 20.000-30.000 cây/ha.

5. Tưới nước và giữa ẩm

Dứa tuy là cây chịu hạn khá, có thể trồng trọt ở những nơi đất khô cằn và các vùng đất dốc nhưng vẫn rất cần nước để sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao và phẩm chất tốt.

những vùng có mùa khô rõ rệt như phía Nam và các vùng đồi dốc yêu cầu tưới nước và giữa ẩm cho dứa càng phải chú ý.

Ở đồng bằng sông Cửu Long đất thấp trồng dứa trên từng líp có mương nên việc tưới nước khá thuận lợi.

Dùng gầu vảy hoặc máy bơm đặt trên xuồng lấy nước ngay từ mương lên.

Có nước mương làm ẩm chân đất nên ngay trong mùa khô mỗi tháng cũng chỉ cần tưới dăm ba lần không khó khăn lắm.

Phủ đất ruộng dứa cũng là biện pháp dược quan tâm, áp dụng không những để giữ ẩm cho đất trong mùa khô mà còn chống úng và chống xói mòn đất trong mùa mưa, hạn chế cỏ dại, góp phần tăng năng suất dứa rõ rệt.

Dùng màng phủ nilông màu đen phủ lên đất giữa 2 hàng dứa.

Cũng có thể dùng rơm rác, cỏ khô để phủ, đồng thời cung cấp thêm chất mùn cho đất.

6. Tỉa chồi

Đối với cây dứa, tỉa chồi là biện pháp cần thiết để tăng năng suất quả, nhất là với các giống nhóm Queen và Spanish thường ra nhiều chồi, tranh chấp dinh dưỡng của quả,

Chồi cần tỉa bỏ trước hết là chồi ngọn và chồi cuống vì những chồi này không dùng làm giống.

Việc tỉa chồi cuống tương đối đơn giản, chỉ cần dùng tay hoặc dao tách nhẹ ra khỏi cuống từ phía trên xuống.

Riêng với chồi ngọn nếu bẻ trực tiếp sẽ ảnh hưởng đến quả, tạo ra vết thương dễ làm thối quả, nếu không cẩn thận có thể làm gãy cả quả.

7. Trừ cỏ

Trên ruộng trồng dứa cỏ dại thường phát triển nhiều, ánh hưởng rất lớn đến sinh trường của cây.

Các loại hoá chất trừ cỏ dứa dùng hiện nay là các chất Ametryn (có các thuốc Ametrex, Gesapax…), chất Atrazin (các thuốc Atranex, Mizin…), chất Diuron (các thuốc Ansaron, Maduron…) và chất Paraquat (thuốc Gramoxon, Pesle…) các thuốc trên đều phải phun sau khi làm đất lần cuối trước khi trồng dứa hay sau khi trồng dứa cây cỏ còn nhỏ.

Riêng chất Paraquat chỉ phun lên cỏ trước khi làm đất, không được phun trên ruộng đã có dứa vì sẽ làm cháy lá.

8. Bón phân

a. Bón lót:

Bón phân lót cho dứa khi trồng vụ đầu hoặc sau mỗi vụ thu hoạch là rất cần thiết, có tính chất quyết định đến sự sinh trưởng và năng suất cây.

Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ (phân chuồng, phân vi sinh, phân rác, phân xanh, phân Lân và vôi).

Lượng phân hữu cơ bón là từ 10-15 tấn/ha.

Lượng Lân nguyên chất không nên bón vôi nhiều quá vì cây dứa cần đất hơi chua, không ưa lượng canxi cao (P2O5) là 30-50 kg (tương đương 200-350 kg suoer lân).

Lượng vôi khoảng 100-200 kg/ha tùy độ chua đất.

Sau vài ba năm vườn dứa phải phá đi trồng lại, có thể băm nát thân lá trộn với đất cũng rất tốt.

b. Bón thúc:

chủ yếu bằng hỗn hợp đạm, và kali với liều lượng cho 1 cây là 5-8 giảm N + 10-15 giảm K2O (tương đương khoảng 10-20 giảm Urê + 20-30 giảm Clorua Kali).

Chia bón 3 lần:

Ngoài ra có thể bón phân một lần sau khi hoa nở xong để nuôi quả, lần này chỉ nên dùng phân kali và bổ sung thêm một số vi lượng, nhất là Bo (dạng axit Boric hoặc Borat).

Nếu đã dùng phân Lân dạng Thermophotphat (Lân nung chảy Văn Điển) thì không cần bón thêm Magiê, nhưng nếu dùng Super Lân (Lân Lân thao) thì nên bón thêm Magiê với liều lượng khoảng 3 g/cây ở dạng đôlômit.

Các kết quả thí nghiệm của trung tâm nghiên cứu cây ăn quả phú Hộ (Phú Thọ) rút ra kết luận là với giống Queen để có năng suất và chất lượng cao nên bón NPK với tỉ lệ 2:1:3, tương đương 10:5:15 g/cây.

Trong thực tế sản xuất nếu không có khả năng đầu tư nhiều có thể bón NPK với liều lượng 8:4:8 g/cây cũng có kết quả tốt.

đối với giống Cayen lượng bón cần nhiều hơn, nên ớ mức 10 gN + 5g P2O +10 giảm K2O cho 1 cây.

Mức N tối thiểu không dưới 8 g/cây (tương đương 17 giảm Urê).

Cách bón là xới nông 2 bên hàng kép cách gốc 15-20 cm, rải phân rồi lắp đất lại.

Có thể dùng thìa có cán dài xúc phân đổ vào nách lá già sát gốc.

Rải phân xong nên tưới nước ngay.

Ngoài ra hàng năm nên phun phân bón lá một số lần để bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các chất vi lượng.

10. Rải vụ thu hoạch

Cây dứa có thời vụ chín rất tập trung trong một thời gian ngán nên thường gặp một số khó khăn vè nhân lực và phương diện vận chuyển, thời gian cung cấp sản phầm cho thị trường và nhà máy chế biến cũng ngắn.

Vì vậy ở những cơ sở sản xuất diện tích lớn, vấn đề rải vụ là một yêu cầu thực tế quan tâm.

Để rải vụ áp dụng nhiều biện pháp.

  • Trồng nhiều giống dứa khác nhau theo từng lô riêng để kép dài thời gian thu hoạch. Ở miền Bắc, nhóm dứa Queen chín vào tháng 5-6, nhóm Spanish chín vào tháng 6-7 còn nhóm Cayen chín vào tháng 7-8, nếu trồng cả 3 nhóm giống thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8.
  • Trồng nhiều loại chồi có kích thước, trọng lượng khác nhau vào các thời vụ và từng lô khác nhau cũng cho thời gian ra hoa và thu hoạch khác nhau,
  • Xử lý cho cây ra hoa theo thời gian dự kiến là biện pháp rải vụ thu hoạch rất có hiệu quả.

Bệnh

  • Rệp sáp: xử lý chồi trước khi trồng (như trên).
  • Tuyến trùng: làm hại rễ, vàng lá, cây chậm lớn. Để phòng trừ cần làm sạch cỏ dại triệt để.
  • Bệnh thối nõn: dùng Falizan 0,2% hoặc Maneb 0,5% hoặc TMTD 1% để phun.

Tác dụng y học

Cải thiện hệ tiêu hoá

Lượng enzim bromelain trong dứa có lợi cho quá trình tiêu hoá và đảm bảo trung hòa được lượng axit. Bromelain phá vỡ liên kết protein và thúc đẩy quá trình tiêu hóa. Đồng thời điều tiết tuyến tụy để hỗ trợ trong quá trình tiêu hóa.

Xương chắc khoẻ

Dứa có nhiều mangan là chất tốt trong việc duy trì xương khỏe mạnh. Một cốc nước ép dứa chứa khoảng 73% lượng mangan cho nhu cầu hàng ngày của cơ thể. Dứa giúp phát triển xương ở giai đoạn trẻ và tăng cường cho xương khoẻ mạnh ở giai đoạn khác.

Nước ép dứa có chứa vitamin C giúp giải quyết các vấn đề liên quan đến răng nướu. Bên cạnh lợi ích giúp xương khoẻ mạnh, mangan cũng rất hữu ích trong việc chữa lành vết thương, điều chỉnh lượng đường trong máu, làm tăng khả năng miễn dịch và giữ cho làn da khỏe mạnh.

Giảm viêm khớp

Dứa có đặc tính chống viêm, do đó thêm dứa vào chế độ ăn uống của bạn có thể làm giảm đau viêm khớp, cũng như bệnh gút và hội chứng ống cổ tay. Dứa cũng có thể giúp cải thiện tổng trạng bằng cách làm xương chắc khỏe.

Chống ung thư

Dứa rất đầy đủ các chất chống oxy hóa, giúp bạn chiến đấu chống lại các gốc tự do. 

Các gốc tự do là nhóm các nguyên tử gây tổn thương khi tiếp xúc với màng tế bào/ADN của bạn. Chất chống oxy hóa ngăn chặn các gốc tự do làm tổn thương cơ thể của bạn, bằng cách giữ cho các tế bào khỏe mạnh.

Giảm cân

Dứa là một loại hoa quả giàu chất dinh dưỡng, những người thiếu máu hoặc đang trong quá trình hồi phục sức khỏe nên thường xuyên ăn dứa. 

Vì dứa còn có tác dụng lợi tiểu, chống lão hóa và tốt cho dạ dày. Những người muốn giảm béo cũng nên dùng dứa thường xuyên vì cùng với bưởi, dứa là thực phẩm có tác dụng giảm mỡ trong cơ thể.

Rất nhiều người thực hiện chế độ ăn kiêng đã nói rằng dứa là một loại thực phẩm giúp họ giảm cân hiệu quả. Các enzyme chứa trong quả dứa có tác dụng thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn. 

Trong đó, một số nghiên cứu sơ bộ cũng cho thấy enzyme bromelain góp phần tiêu hóa chất béo trong cơ thể, làm giảm lượng chất béo trong cơ thể một cách đáng kể.

Bảo vệ mắt

Ăn dứa còn giúp tăng cường bảo vệ sức khỏe răng lợi và thị lực ở mắt, nhất là đối với người bị tổn thương võng mạc, làm giảm nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng đến 35 %. Thêm nữa, loại trái cây này còn chứa Beta Carotene giúp bạn có thể nhìn rõ hơn

Chống ho và cảm lạnh 

Khi bạn bị ho và cảm lạnh, nhiều người thường tìm cách tăng cường vitamin C cho cơ thể bằng cách uống nước cam. Vậy tại sao bạn lại không cân nhắc đến việc ăn dứa nhỉ?

Những lợi ích của dứa khi bạn bị cảm lạnh hay ho giống hệt như những lợi ích của nước cam. Và ngoài ra dứa còn có một lợi ích bổ sung nữa là bromelain được tìm thấy trong dứa giúp ngăn chặn ho và nới lỏng niêm dịch.

Giá trị kinh tế

Cây dứa hay còn gọi là cây khóm, cây thơm được trồng khá nhiều ở nước ta. Đây là loại quả được sử dụng phổ biến trong việc chế biến thức ăn, nước uống và nhiều loại bánh, kẹo, thực phẩm khác. Chính việc, ứng dụng rộng rãi của loại quả này, nên trông nhiều năm gần đây, diện tích trồng dứa ở nước ta tăng lên đáng kể. Theo đánh giá, dứa là loại cây chịu hạn tốt, ít sâu bệnh, phù hợp với vùng đất đồi dốc ở vùng này; đặc biệt, trồng dứa đầu tư ít nhưng đem lại lợi nhuận kinh tế cao.

Phân loại

  • Dứa Victoria (dứa tây, dứa hoa) có các giống:

               + Dứa hoa Phú Thọ: thuộc nhóm Queen, trồng được nơi đất chua xấu. Lá có nhiều gai và cứng, quả nhỏ, thịt quả vàng đậm, thơm, ít nước, giòn.
               + Dứa Na hoa: lá ngắn và to, quả to hơn dứa hoa Phú Thọ, phẩm chất ngon, năng suất cao.

  • Dứa Cayen: lá chỉ có ít gai ở đầu mút lá, lá dài cong lòng máng, quả to, khi chưa chín quả màu xanh đen, khi chín chuyển màu da đồng. Quả nhiều nước, thịt vàng ngà, mắt dứa to và nông, vỏ mỏng, thích hợp với đóng hộp.
  • Dứa ta thuộc nhóm Red Spanish: chịu bóng rợp, có thể trồng xen trong vườn quả, vườn cây lâm nghiệp. Dứa Cayen trồng phổ biến ở Tam Điệp, Ninh Bình.
  • Dứa ta (Ananas comosus var spanish hay Ananas comosus sousvar - red spanish) là cây chịu bóng tốt, có thể trồng ở dưới tán cây khác. Quả to nhưng vị ít ngọt.
  • Dứa mật (Ananas comosus sousvar - Singapor spanish) có quả to, thơm, ngon, trồng nhiều ở Nghệ An và Thanh Hóa[cần dẫn nguồn].
  • Dứa tây hay dứa hoa (Ananas comosus queen) được du nhập từ 1931, trồng nhiều ở các đồi vùng Trung du. Quả bé nhưng thơm, ngọt.
  • Dứa không gai (Ananas comosus cayenne) được trồng ở Nghệ An, Quảng Trị, Lạng Sơn. Cây không ưa bóng. Quả to hơn các giống trên.

Bình luận