Mắc Ca

Mắc ca hay mác ca là tên gọi từ cách phiên âm trong tiếng Việt của chi thực vật có danh pháp khoa học Macadamia, gồm nhiều cây thân gỗ có nguồn gốc từ châu Đại Dương (Úc), thuộc họ Proteaceae. Các loài trong chi này là bản địa của đông bắc New South Wales và trung-đông nam Queensland. 

Cây này là một loại có trái thương mại. Ngôn ngữ của thổ dân bản địa Úc thường gọi cây này bằng các tên gọi như bauple, gyndl, jindilli,. Trước đây chi này có nhiều loài, nhưng kết quả nghiên cứu về gen và hình thái được công bố năm 2008 bởi Austin Mast và cộng sự đã tách chúng ra khỏi chi Macadamia, và chi này hiện còn 4 loài.

Phân bổ

Chúng được nhân rộng tại một số vùng tại Trung Quốc, Thái Lan... Quả mắc ca hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm chức năng, do đó nhu yếu về sản vật này ngày một cao.

Năm 1881 mắc ca được đưa tới trồng ở Hawaii vào, lúc đó chúng được sử dụng như một cây trồng rừng. Năm 1948, Trạm nghiên cứu nông nghiệp Hawaii đã đầu tư nghiên cứu về lĩnh vực giống và đã tạo ra các dòng có nhiều triển vọng làm tiền đề cho công nghiệp mắc ca hiện đại ở Hawaii như ngày nay. 

Tại Việt Nam, cây mắc ca được đưa về trồng khảo nghiệm từ những năm cuối thế kỉ XX. Cây mắc ca được cho là thích hợp với Tây Nguyên và Tây Bắc bộ của Việt Nam. Trong chiến lược phát triển kinh tế nông lâm nghiệp trong tương lai cây Mắc-ca sẽ là một trong những loài được quan tâm.

Chăm sóc

1. Phương pháp chọn giống : trên một diện tích trồng Mac ca nên trọn trồng từ 2 đến 3 giống khác nhau để cây có thể thụ phấn chéo khi ra hoa , giúp tăng năng suất , sản lượng . Khi mua cây giống về nên để cây nơi râm mát, tưới nước giữ ẩm, khi bộ rễ đã ổn định thì đem cây đi trồng.

2. Phương pháp đào hố  trước khi trồng : Vì cây Mac ca là loài cây cho thu hoạch hạt lâu năm , như ở Hawaii – Mỹ hiện nay những cây hơn 60 năm tuổi vẫn cho thu hoạch 6 tấn hạt / ha . Vì vậy đào hố khích thước lớn giúp cây có bộ rễ chắc khỏe khi cây còn non là rất cần thiết . Nên đào hố có kích thước rộng 70cm , sâu 70 cm . và để phơi nắng 2-3 tuần nhằm diệt bớt các vi khuẩn có hại .

3. Phương pháp chọn hướng và mật độ trồng : Tùy theo độ dốc địa hình để chọn mật độ trồng phù hợp . Nếu trồng trên đất bằng  thì trồng hàng cây theo hướng Bắc – Nam để cây dễ dàng đón nhận ánh sáng mắt trời được nhiều nhất , tăng khả năng quang hợp ánh sáng cho cây . Mật độ 277 cây /ha ( cây cách cây 4,5m ,hàng cách hàng 8m )

Nếu trồng trên triền đồi dốc , nên trồng hàng cách hàng theo đường đồng mức . Tùy theo độ dốc để xác định khoảng cách giữa các hàng có thể 9 m-10 m . Mật độ 200 – 222 cây /ha ( cây cách cây 5m ,hàng cách hàng 9-10 m )

Ngoài ra còn xác định hình thái tán cây của từng giống để tính toán mật độ phù hợp . Ví dụ giống OC , A38, A14… có hình thái tán xòe rộng nên trồng mật độ 4,5X9 , còn hầu hết cá giống khác đề có bộ tán thẳng , cây cao lớn hơn

4. Phương pháp bỏ phân bón lót : Trước khi trồng cây vào hố 01 tháng nên đào hố và trộn lớp đất mặt cùng với 10 kg phân chuồng ủ hoai ; 0,5 kg phân Lân nung chảy ; 300 gram vôi bột . Trộn đề với lớp đất mặt , sau đó lấp đất lại hố 20 ngày trước khi trồng.

5. Phương pháp trồng cây  : Trước tiên rạch túi bàu , kiểm tra bộ rễ . Nếu thấy có rễ quá dài xuyên qua khỏi túi bàu thì dùng kéo cắt sát tới bàu đất , cây sẽ tự mọc ra rễ mới . Sau đó đào hố và trồng âm xuống đất 10 cm và lấp đất lại , tạo mô đất nơi gốc cây tránh trường hợp bị trũng nước khi có gió làm lay gốc , đứt rễ . 

Dùng chân giẫm nhẹ xung quanh gốc cây nhằm cố định cây không bị nghiêng ngả do gió lớn hoặc mưa xuống gây sụt lún . Trường hợp vùng có nhiều gió , nên cố định cây đứng thẳng bằng cách cắm cọc tre. 

Sau 20 ngày kiểm tra nếu có cây chết thì trồng dặm thay thế. Nếu cây bị nghiêng ngả thì điều chỉnh lại . Trước và sau khi trồng cây bỏ thuốc Basudin… vào trong hố và rải trên mặt đất quanh gốc cây để phòng trừ mối hại

6. Phương pháp bón phân sau khi trồng : Cần căn cứ vào tình hình thổ nhưỡng qua phân tích đất hoặc qua mầu sắc của lá có dấu hiệu khác thường để quyết định bón phân gì ? bao nhiêu? Và vào lúc nào ?

Nguyên tắc chung là bón phân NPK nhiều đợt trong năm và số lượng vừa đủ , không nên bón quá nhiều cùng một lúc . Trong 2 năm đầu chỉ cần bón 100 gram NPK / cây/năm vào đầu mùa mưa và gần cuối mùa mưa . Lưu ý không bón NPK sau khi trồng 02 tháng .

Khi cây 03 tuổi nên bón  350 – 400 gram NPK/cây / năm . Bón phân vào rãnh quanh gốc (rãnh sâu khỏang 5-10cm cách gốc 30-40cm). Mỗi lần bón 120gram/gốc NPK , sau khi bón phân lấp đất lại.

Khi cây đã trưởng thành và cho thu hoạch , nên bón phân chuồng ủ hoai và phân Lân hàng năm vào tháng 11 để phục hồi sức cho cây sau vụ thu hoạch, đồng thời tạo tán tỉa cành .

Lưu ý : Nên bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt bằng các chế phẩm sinh học dạng dung dịch sẽ cung cấp đa dạng vi sinh vật phân hủy mùn đất tạo ra đạm , lân , ka li tự nhiên thân thiện môi trường . Bón thêm thành phần Ka li thì sẽ là tăng kích cỡ quả Mắc ca

7. Tưới nước cho cây : Trong thời gian 3 năm đầu sau khi trồng có thể tưới bất khì khi nào nếu thấy khô hạn nhằm cho cây phát triển. Nhưng đến năm thứ 4  trở đi cây có khả năng cho quả thì nên ép khô xiết nước cây nhằm ức chế ra hoa . 

Sau đó tập chung tưới đồng loạt vào giữa tháng 1 dương lịch thì đến khoảng giữa tháng 02  đầu tháng 3 , cây bắt đầu ra hoa đồng loạt , tăng khả năng thụ phấn chéo cho cây.

Đến tháng giữa tháng 3 dương lịch nên bón phân Lân và tưới nước cho cây thêm một lần nữa nhằm tránh quả bị rụng non do thời điểm đó tại Tây nguyên trời thường khô hạn.  

Nếu có hệ thống tưới nhỏ giọt là tốt nhất , có thể bón phân qua hệ thống tưới , cung cấp dinh dưỡng nuôi trái được liên tục. Giảm ngày công lao động

8. Phương pháp tạo tán , tỉa cành :  Trong 3 năm đầu nên tạo tán giữ cho cây có 1 thân thẳng đứng. cắt bỏ các cành cao dưới 1,4m . Mỗi tán cành cách nhau  khoảng 60-70cm .

Độ dài các nhánh khoảng 60 cm thì cắt ngọn một lần . Chỉ nên giữ lại 2-3 chồi từ một nhánh . Nếu thực hiện đúng phương pháp tạo tán sẽ cho năng suất cao và thông thoáng .

Loại bỏ hoa trái vụ để tập trung dinh dưỡng cho cây và đỡ tốn công thu hoạch nhiều lần trong năm.

Bệnh

1. Bệnh thối hoa:

- Triệu chứng: đầu tiên xuất hiện một số đốm màu vàng tối trên đài hoa, sau đó cả hoa bị khô héo, hoa bị khô rồi rụng. Trong điều kiện mưa ẩm những hoa bị nhiễm bệnh biến sang mầu nâu xám đến màu đen.

-  Cách phòng trị: Không nên trồng cây quá dày. Cây chớm bị bệnh phun thuốc có hoạt chất Benomyl, Carbendazim, Thiophanate-methyl,… nếu phun chậm  thì không có tác dụng.

2. Bệnh vỏ quả có nốt:

- Triệu chứng: Đầu tiên xuất hiện nốt màu vàng nhạt trên vỏ quả, dần biến thành màu vàng đậm rồi màu nâu lan rộng từ 5-15mm. Khi khuẩn xâm nhập vào phía trong của vỏ nó chuyển sang màu nâu đen.

- Cách phòng trị: Phun Cupric Hydroxide Cu(OH)2 77% pha loãng 300 – 800 lần phun lên toàn bộ quả hoặc cục bộ lô bị bệnh, mỗ tháng 1 lần, trong ba tháng liền.

3. Bệnh nấm hại thân cây:

- Triệu chứng: Bệnh hại chủ yếu thân cây và cành cây, do hai loại nấm dịch mao khuẩn và hai bào khuẩn mao sắc. Bệnh thường lây lan do tác động cơ giới lan truyền vào vết thương thân cây. Khi đã nhiễm bệnh thì lá, cành bị chết khô và dần cây cũng bị chết.

Vì vậy, việc kiểm tra thường xuyên vườn cây cần được nghiêm túc thực hiện để sớm phát hiện bệnh lý. Khi thấy vết chảy nhựa trên thân cây thì dùng dao cạo hết phần vỏ bị thối sau đó dùng hóa chất như Ridomil Gold 68WP, Ridomil Mz 72WP… hòa nước liều lượng 30 - 50 gam/ lít quét nhiều lần lên vết bệnh; có thể dùng các loại hóa chất này tưới xung quanh gốc cây bị bệnh với liều lượng 30 - 50 gam/10 lít nước… nếu có điều kiện nên sử dụng biện pháp tiêm trực tiếp thuốc AgriFos 400 (liều lượng 20 ml thuốc + 20 ml nước/1 lần tiêm) vào thân cây bằng dụng cụ tiêm chuyên dụng. Ngoài ra có thể dùng loại nấm Trichoderma (liều lượng: 1 kg trộn với 40 kg phân chuồng) là loại nấm đối kháng với nấm Phytophthora (nấm gây bệnh xì mủ thối gốc ) rãi vào đất dưới tán cây.

4. Côn trùng:

Khi cây ra hoa hoặc chồi non thường bị kiến và một số loài côn trùng như bọ xít tấn công

Cần phun phòng định kỳ, không nên phun thuốc lúc cây ra hoa. Giai đoạn cây ra trái non, côn trùng thường chích hút quả non làm quả bị những nốt thâm gây rụng quả.

Nên đặt bẫy côn trùng có bán sẵn trên thị trường , Chỉ sử dụng các chất hóa học phun lên cây khi bệnh dịch vượt ngoài tầm kiểm soát với quy mô lớn .  

Đối với kiến và chuột , nên thường xuyên làm sạch cỏ quanh gốc cây . Cắt bỏ những cành cây thấp gần mặt đất. 

Sử dụng 1 miếng nhựa hoặc kim loại rộng 12 cm , có 2 mặt nhẵn uốn quanh gốc theo hình nón cụt sẽ ngăn đường đi của chúng. Vào trước mùa thu hoạch hạt dùng miếng nhựa cứng , trơn cao 60 cm ốp quanh gốc cây cách mặt đất 50cm cũng có thể ngăn được chuột trèo lên cây.

Tác dụng y học

1. Bảo vệ tim mạch

Nhân của hạt mắc ca có hàm lượng dầu tới 78%, cao hơn hẳn lạc (44,8%), nhân điều (47%)… Trong dầu của mắc ca có trên 87% là axit béo không no, trong đó có nhiều loại mà cơ thể con người không tự tổng hợp được. Khi ăn vào giảm được Cholesterol, có tác dụng phòng trị xơ cứu động mạch. Hàm lượng Protein trong nhân có tới 9,2%, gồm 20 loại Axit Amin trong đó có 8 loại Axit Amin cần thiết cho cơ thể con người. Trong mắc ca còn có chứa một loại amino acid tên là arginine – chất này giúp các thành mạch máu linh hoạt. Các chất chống oxi hóa trong mắc ca cũng mang lại nhiều lợi ích cho hệ tim mạch của bạn. Hạt mắc ca được Quỹ tim mạch của Úc khuyên dùng.

2. Tốt cho phụ nữ mang thai và trẻ em

Trong nhân mắc ca có chứa nhiều chất khoáng, nhiều loại Vitamin, Omega-3…rất có lợi cho bà bầu và trẻ em. Hạt mắc ca giúp cung cấp nguồn năng lượng dồi dào với hàm lượng calo cao gấp đôi so với các loại hạt khác. Người mẹ mang thai ăn loại quả này sẽ giúp cho khẩu phần ăn của mình thêm phong phú và góp phần tích lũy năng lượng cho thai nhi.

Hạt mắc ca có tác dụng rất tốt đối với trẻ. Dạy dỗ và nuôi nấng là những gì tốt nhất bạn có thể dành cho con em của mình. Thói quen ăn uống, kiến thức và sự lựa chọn thực phẩm từ khi còn bé sẽ được chúng mang theo cho đến tận khi trưởng thành. Ăn vặt đặc biệt quan trọng đối với trẻ nhỏ vì thế hướng cho con bạn ăn những đồ ăn nhiều dinh dưỡng là điều cần thiết. Hãy dạy cho con bạn lựa chọn hạt mắc ca. Hạt này chứa nhiều loại dầu tốt cho sức khỏe, chất xơ, vitamin, khoáng chất và chất chống oxi hóa, vị ngon và tiện dụng vì thế nó là loại thực phẩm lý tưởng cho những đứa bé năng động. Hãy cho con bạn ăn hạt mắc ca sau giờ học, khi đi dã ngoại và vào những ngày nghỉ cuối tuần.

3. Cung cấp đầy đủ năng lượng, giảm béo, thích hợp cho các chế độ ăn kiêng

Theo các khuyến cáo, hạt mắc ca được khuyên dùng như là một phần của hầu hết các chế độ ăn kiêng.  Nếu bạn muốn thực sự đốt cháy chất béo, bạn phải giảm hàm lượng carbohydrate trong chế độ ăn uống của bạn. Mắc ca là một sự lựa chọn tốt cho chế độ ăn uống với hàm lượng carbohydrate thấp.Mắc-ca được xem là một trong những loại hạt giúp các chị em có thể thoải mái ăn vặt trong quá trình ăn kiêng.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chế độ ăn có chứa hàm lượng chất béo vừa phải thúc đẩy cảm giác no, kéo dài hơn và ngon miệng hơn. Mặt khác chế độ ăn ít chất béo thường ko đủ thỏa mãn và khó duy trì hơn. Việc sử dụng hạt mắc ca ở mức vừa phải, được thay thế các loại thực phẩm khác cho thấy chúng không hề  khiến bạn tăng cân mà ngược lại còn giúp bạn giảm cân.

4. Có lợi cho người có bệnh tiểu đường, đường huyết cao.

Chỉ số đường huyết (GI) là một thứ hạng khoa học của thực phẩm dựa trên tác dụng tức thì của chúng trên mức độ đường trong máu. Hạt mắc ca được phân loại là một loại thực phẩm có hàm lượng GI thấp. nHạt mắc ca giúp kéo dài cảm giác no do đó làm giảm cảm giác đói. Nó cũng làm chậm quá trình tiêu hóa với chỉ số đường huyết thấp. Protein, chất xơ và chất béo trong mắc ca giúp ổn định lượng đường trong máu để tránh cảm giác “ thèm đường”.

5. Bổ sung chất xơ thực phẩm

Chất xơ là một thuật ngữ cho carbohydrate có khả năng kháng enzyme tiêu hóa trong dạ dày và do đó đi qua vào đường tiêu hóa, nơi chúng thúc đẩy các vi khuẩn đường ruột mong muốn và quá trình sinh lý có lợi.

Các chất xơ được tìm thấy trong mắc ca về cơ bản là thành tế bào bên trong nhân, 100g Mắc ca cung cấp 8.6g hoặc 23% mức đề nghị hàng ngày của nhu cầu chất xơ.

6. Giá trị ẩm thực

Vỏ mắc-ca có nhiều tannin và protein, dùng làm thuộc da và chế biến thức ăn chăn nuôi. Thành phần hữu ích chính của quả mắc-ca là phần nhân – được xếp vào hàng thượng phẩm trong “kho hạt” phong phú của xứ sở bánh ngọt phương Tây. Mắc-ca có vị béo, ngọt, giòn tan, trung hòa gia vị làm cho món ăn thêm đậm đà, thường được dùng để ăn sống, luộc hoặc xào nấu. Từ lâu mắc-ca đã được đưa lên bàn ăn của các gia đình giàu có hoặc yến tiệc sang trọng.

Nhân mắc-ca sau khi chiên rang ăn rất ngậy, bùi, có hương vị của bơ, là một loại thực phẩm cao cấp, ngon, bổ, giàu chất béo, giàu nhiệt năng, dùng để chế biến nhân bánh, chocolate,nước uống, dầu salat… góp phần tạo nên hương sắc mới lạ và làm tăng giá trị cho món ăn.

7. Tác dụng làm đẹp da 

Bên cạnh những đóng góp to lớn trong ẩm thực, mắc-ca còn là một sản phẩm làm đẹp cao cấp. Dầu mắc-ca rất được yêu thích trong lĩnh vực chăm sóc da. Được đánh giá cao vì có chứa khoảng 22% các axit omega-7 palmitoleic, dầu mắc-ca là giải pháp thay thế dâu chồn – một trong những “thần dược” cho làn da phụ nữ.

Giá trị kinh tế

Quả Mắc ca có thành phần ăn chủ yếu của hạt là nhân với tỷ lệ 30 – 40%, có tỷ lệ dầu béo (đa số là dầu rất quý – dầu béo không no Omega3, 6,7, không để lại Cholecterol) chiếm tới 78% - cao nhất trong các loại cây có dầu (hạnh nhân 51%, điều – 47%, lạc 44,8%), Nhân hạt còn chứa đường 10%, đạm(protein) 9,2%, nhiều vitamin, chất khoáng có ích như: Kali 0,37%, Phôt-pho 0,17%, Ma-nhê 0,12%, vì thế Mắc ca là nguyên liệu đa dạng cho các ngành chế biến bánh kẹo, thực phẩm, mỹ phẩm cao cấp (kem dưỡng da, chống nắng), là thức ăn phù hợp cho các lứa tuổi từ người già tới trẻ em, tốt cho người ăn kiêng, tiểu đường, huyết áp..

Hiện nay từ quả Mắc ca có thể chế biến ra với sản lượng 42 ngàn tấn nhân hạt khô, dự báo đến năm 2020 nhu cầu cần tới 230 ngàn tấn, như vậy mới đáp ứng 20% nhu cầu của thế giới. Tại Việt Nam trồng cây ghép năm thứ 3 đã bất đầu bói quả, năng suất tại năm thứ 5 đã đạt 5 kg/cây, năm thứ 10 đạt 20 kg/cây cao gấp đôi tại chính xuất xứ tại Úc. 

Chỉ tính với 200 cây/ha, mỗi cây có 17 kg quả, năng suất đã có thể đạt 3,5 tấn/ha, với giá bán 3.000 USD/tấn, mỗi ha có thể thu 10.000 USD, giá trị thu nhập bình quân 200 triệu đ/năm, tại các năm 15 – 20 có thể đạt gấp đôi. 

Đầu tư cho cây mắc ca trong 5 năm đầu tiên 100 triệu/ha, các năm sau 15 triệu đ/ha, mắc ca ít bị sâu bệnh, nhu cầu tưới bổ xung thấp chủ yếu sống nhờ nước trời. 

Triển vọng, vùng quy hoạch:  Sau hơn 10 năm khảo nghiệm rộng với diện tích 2.000 ha (Tây Nguyên 1.600 ha, Tây Bắc 400 ha), đã xác định 2 vùng với tổng diện tích 1,2 triệu ha rất thích hợp hoặc thích hợp trồng cây Macca với nhiệt độ thấp hơn 17oC trong  3 - 5 tuần, không có mưa xuân, tầng canh tác dày 0,5 – 1m (nếu giàu mùn sẽ đỡ bón phân), thích hợp đất hơi chua pH= 5 – 6. Độ cao 300 - 1200 m trên mặt biển. 

Lượng mưa tối ưu: 1.500 – 2.500 mm. Mắc-ca có thể chịu lạnh, sương giá tới – 40 C đối với cây con và – 60 C đối với cây trưởng thành tới 7 ngày và có thể chịu nóng tới trên 38-400 C. Dưới 100 C cây hoàn toàn ngừng sinh trưởng, kích thước và sinh khối tăng mạnh nhất ở nhiệt độ 15-300 C, trên 300 C lá non mất màu xanh, khô đọt, gốc đâm cành thành chùm. Hầu hết các giống Mắc ca đều ngừng quang hợp ở 380 C. Hoa nở thành từng chùm đuôi sóc rất đẹp chủ yếu vào tháng 3 – 4, các tháng khác vẫn có hoa rải rác – thích hợp nuôi ong mật, quả chín tháng 9 – 10, ít bão, ít gió lào, tháng 10 mát mẻ, tháng 4-5 ẩm ướt, tháng 7-8-9-10 nóng ẩm mà không quá gay gắt đó là những yếu tố khí hậu cần thiết đảm bảo cho Mắc ca đạt năng suất cao. 

Dự kiến quy hoạch 10 năm tới 2025 Việt Nam trồng 100 ngàn ha, sau 20 năm (tới 2035) đạt 200 ngàn ha, là cây triển vọng thay thế trồng thuần cho 100 ngàn ha tái canh cây cà phê đã có tuổi trên 20 năm hiện nay, các vùng đang trồng sắn có thể trồng xen trong 4 năm đầu, trồng xen trong cà phê, tiêu, cây bóng mát, cây đô thị, cây hàng dào che nắng gió, trở thành cây chủ lực với giá trị thu nhập hàng tỷ đô la cho nông nghiệp sau 10 – 20 năm tới tại Tây Nguyên, Tây Bắc. Vì vậy, hiện nay Nhà nước đã chủ trương phát triển rộng loại cây này tại Tây Nguyên, Tây Bắc, đã ban hành Nghị định 210/2013 NĐ-CP hỗ trợ phát triển mỗi ha Mắc ca trồng mới 15 triệu (quy mô trên 50ha), mỗi trang trại nhân giống quy mô trên 500.000 cây giống hỗ trợ không quá 2 tỷ đồng.

Phân loại

Trên thế giới, Chi Macadamia có 18 loài, trong đó 10 loài nguyên sản tại Úc, 6 loài tại Tân Cri-đo-nia, 1 loài tại Ma-đa-gas-ca, 1 loài tại đảo Xi-ri-bô.

Trong 18 loài trên chỉ có 2 loài đã được gây trồng trên quy mô thương mại là:

- Macadamia integrifolia - Mắc ca vỏ hạt láng hay mắc ca lá nguyên.
- Macadamia tetraphylla - Mắc ca vỏ hạt nhám hay mắc ca mép lá răng cưa.

Các loài mắc ca còn lại có nhân nhỏ, vị đắng, ít nhiều chứa độc tố nên chưa được gây trồng nhiều.

Nếu gộp các loài đã được gây trồng, có triển vọng hoặc có giá trị làm cây cảnh thì có thể kể tới 5 loài sau đây:

  • 1. Macadamia integrifolia Maiden - Betche (mắc ca vỏ láng, mắc ca lá nhẵn)
  • 2. Macadamia tetraphylla L.A.S Johnoson (mắc ca 4 lá, mắc ca hạt nhám hoặc mắc ca lá răng cưa, mắc ca lá gai)
  • 3. Macadamia ternifolia F.Mueller (Măc ca 3 lá)
  • 4. Macadamia Prealta F.Muell (Mắc ca cầu)
  • 5. Macadamia Whelanii F.M.Bail

Bình luận