Mãng cầu (na)

Na, hay còn gọi là mãng cầu ta, mãng cầu dai/giai, sa lê, phan lệ chi, (danh pháp hai phần: Annona squamosa), là một loài thuộc chi Na (Annona) có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng người ta cho rằng nó là cây bản địa của vùng Caribe.

Cây na cao cỡ 2–5 mét, lá mọc xen ở hai hàng; hoa xanh, quả tròn có nhiều múi (thực ra mỗi múi là một quả), hạt trắng có màu nâu sậm. Hạt có chứa độc tố, có tính làm bỏng da và có thể trừ sâu bọ, chấy rận.

Cây na trông từ 4-5 năm mới cho quả nên mới có thành ngữ: "Trẻ trồng na, già trồng chuối".

Phân bổ

Mãng cầu thuộc họ Na (Mãng cầu) phát sinh rất sớm và được con người thuần hóa trước tiên ở các vùng nhiệt đới Châu Mỹ.

Từ thế kỷ 16, các cây họ Mãng cầu đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới và do tính thích nghi rộng được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Tuy nhiên do trái phức hợp, thường to, nhiều nước, khó vận chuyển, nên hiện nay mãng cầu vẫn thuộc loại trái cây chưa khai thác hết tiềm năng. Ở hội nghị trái cây nhiệt đới họp ở Băngladet tháng 7/1992, ngoài những trái đã trồng phổ biến như chuối, dưa, cam, quít, xoài, 5 loại trái cây sau đây được chú ý nhất : Mít, Táo gai, Măng cụt, Ổi, Mãng cầu.

Có hàng chục loại mãng cầu có trái ăn được nhưng trên thế giới chỉ có 2 loại được trồng phổ biến nhất đó là mãng cầu dai (Annona squamosa) và mãng cầu xiêm (Annona muricata). Ở Việt Nam cũng vậy, mãng cầu dai được trồng rộng rãi cả ngoài Bắc và trong Nam, còn mãng cầu xiêm chỉ trồng trong Nam; ở miền Bắc chỉ mới trồng thí nghiệm. Ngoài 2 loại này, còn 2 loại nữa có trái ăn được, nhưng mùi vị ít hấp dẫn, chất lượng thấp nhất là bình bát (A. glalora). Ở miền Nam bình bát mọc rất nhiều ở chỗ thấp, úng, nhiễm phèn và miền Bắc cũng có. Trái có vỏ nhẵn màu xanh, chuyển sang vàng tối khi chín. Thịt màu trắng vàng, hạt màu nâu vàng. Người ta ghép cành mãng cầu xiêm lên gốc bình bát vì tiếp hợp tốt để trồng ở đất thấp nhiễm phèn vì trồng mãng cầu xiêm, chiết hay ương từ hạt thì không được. Hạt bình bát cũng chứa một chất diệt sâu nên có thể dùng bột bình bát tán nhỏ làm thuốc trừ sâu.

Ở Việt Nam còn một loại mãng cầu nữa gọi là nê (na) tác giả đã gặp nhiều lần ở miền Bắc những năm 60, trái rất giống bình bát tên khoa học là Annona reticulata - tên Pháp là Coeur de boeuf (tim bò). Tuy trái giống bình bát nhưng khi còn xanh màu đã hơi vàng khi chín màu vàng đỏ, vỏ trái cũng nhẵn, nhưng thịt trái màu vàng hồng. Hai khác biệt quan trọng nữa là lá nê dài, mỏng như mãng cầu dai, ưa đất cao hạn giống mãng cầu dai trong khi bình bát ưa đất thấp nhiều mùn nặng một chút và chịu úng tốt.

Chăm sóc

Cách trồng

Mãng cầu ta chủ yếu được gieo hạt trong bầu hoặc gieo thẳng vào chỗ cố định, do đó ít khi phải đánh bầu, đi trồng. Nếu ươm cây giống bằng cách gieo hạt ở trong bầu nên đợi tới khi cây khoảng 1 năm tuổi cao khoảng 40 - 50 cm đem trồng thì dễ sống hơn.

Nên trồng với khoảng cách 4 m ở đất xấu, 5 m ở đất tốt kết hợp chăm bón để trái to, cơm nhiều. Hố trồng được đào với kích thước khoảng 60 cm x 60 cm x 60 cm

Chăm sóc

Nhất thiết phải tưới đẫm nước khi vừa trồng, dù là cây ươm trong bầu, hay cây đánh đi trồng cho đến khi cây xanh trở lại, phải tưới nếu nắng hạn. Sau này khi cây đã ra trái, tưới bổ sung khi gặp trời hạn cũng có lợi.

Bón phân

Về bón phân cho mãng cầu ta, cây na, cần tuân thủ quá trình bón lót gồm phân chuồng hoai, phân lân, phân hữu cơ sinh học...vào hố trước khi trồng cho mỗi cây. Quá trình bón thúc để kích thích rễ phát triển lưu ý dùng phân hữu cơ sinh học dành riêng cho mãng cầu, phân khoáng NPK và  tưới gốc bằng các sản phẩm phân chất lượng, lượng bón tăng dần theo năm.

Để trái thêm ngọt, có thể bón thêm phân Kali từ năm thứ ba trở đi với liều lượng 0,5 kg cho mỗi cây. Bà con nên bón làm hai lần trước mùa mưa và sau khi thu trái. Bón theo hình chiếu tán sau dó xới đất lấp phân lại.

Thu hoạch

Dấu hiệu mãng cầu ta chín là màu trắng xuất hiện ở các kẽ ranh giới giữa 2 mắt, và các kẽ này đầy lên, đỉnh múi thấp xuống (mãng cầu mở mắt). Khi hái nên lót lá tươi, lá chuối khô để trái khỏi sát vào nhau, vỏ nát thâm lại, mã xấu đi, khó bán. Hái xong nên vận chuyển ngay đến nơi tiêu thụ vì khi chín rồi dễ bị dập nát.

Bệnh

Mãng cầu ta ít sâu bệnh. Tuy vậy cần chú ý phòng trị rệp sáp, rất phổ biến ở các vườn ít chăm sóc. Khi có rệp sáp có thể sử dụng các thuốc như: Supracid, Bi 58ND, Sumithion, v.v... Xịt vào cuối vụ, khi không còn trái. Khi có trái, xịt cả vào trái, vào lá. Khi trái sắp chín, không xịt nữa, tránh gây độc cho người tiêu thụ.

Tác dụng y học

- Mãng cầu không chỉ có tác dụng chữa các bệnh như viêm loét, thấp khớp mà còn hỗ trợ điều trị tốt bệnh về gan và ung thư. Mãng cầu chứa hàm lượng cacbon hidrat giúp giảm lượng đường trong máu.

- Mãng cầu ít béo và có lượng vitamin C cao hơn nhu cầu hàng ngày dành cho một người. Nó còn là vị thuốc chống oxy hóa rất tốt có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch và giúp bạn trẻ lâu.

- Bên cạnh đó, mãng cầu cũng chứa các loại khoáng chất như photpho và canxi giúp xương chắc khỏe và ngăn ngừa bệnh loãng xương ở phụ nữ. Ngoài ra nó còn công dụng chữa sỏi mật, điều hòa axit uric, tăng cường chất xơ, giúp ăn ngon miệng đồng thời vệ sinh hệ tiêu hóa và tăng cường sức khỏe.

- Nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng lá mãng cầu có khả năng hỗ trợ tiêu diệt tế bào gây ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến. 

Cách dùng mãng cầu chữa bệnh

- Để sử dụng mãng cầu hỗ trợ bệnh ung thư, người bệnh đun sôi mười lá mãng cầu với 3 cốc nước, đun cho khi lượng nước được đun giảm xuống chỉ còn một cốc. Uống ít nhất 2 lần một ngày liên tục trong hai tuần. Lá mãng cầu có tác dụng làm tê liệt tế bào ung thư trong khi duy trì sự phát triển bình thường của các tế bào khác.

- Nếu bạn bị đau khớp, hãy đun sôi 20 lá mãng cầu bằng một lượng nước tương đương với 5 cốc nước để gạn ra 3 cốc nước. Uống ¾ cốc mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm đau.

- Nếu nhà bạn có trẻ sơ sinh bị tiêu chảy, trái mãng cầu chín sẽ giúp bạn chữa bệnh hiệu quả cho bé. Vắt mãng cầu và lọc lấy nước. Cho các bé uống 2-3 thìa.

- Đối với người mắc bệnh trĩ, bạn cần cho người bệnh uống nước ép mãng cầu chín. Vắt mãng cầu lấy nước và cho người bệnh uống 2 lần mỗi ngày một cốc đầy, một vào buổi sáng và một vào buổi chiều.

Giá trị kinh tế

Ở Việt Nam và cả trên thế giới, mãng cầu dai là loại mãng cầu được trồng phổ biến nhất. Ở Ấn Độ mãng cầu dai đã được nhập nội từ lâu và được trồng rộng đến mức độ nó trở thành cây dại và có tác giả đã cho là Ấn Độ là nơi đất tổ của nó. Ngay ở Trung Quốc, Đài Loan mãng cầu dai được đánh giá cao và được trồng rộng rãi do đó mãng cầu dai hoàn toàn có thể xuất kh ẩu nếu cải tiến giống, giảm tỷ lệ hạt, vỏ ??tổ chức đóng gói chuyên chở tốt hoặc chế biến thành đồ hộp, thức uống.
Nghề trồng mãng cầu dai dễ phát triển vì những lý do sau :

a. Hương vị được nhiều người ưa thích vì độ ngọt cao, hơi có vị chua nên không lạt, lại có hương thơm của hoa hồng.

b. Giàu sinh tố, giàu chất khoáng. 

Như vậy, cả về mặt hương vị cả về giá trị dinh dưỡng, mãng cầu dai xứng đáng được xếp vào loại trái cây nhiệt đới có giá trị. Chưa xuất khẩu được nhiều chủ yếu vì không chịu vận chuyển, khó bảo quản.

Một ưu điểm lớn nữa của mãng cầu dai là tính thích ứng lớn; chỉ lấy một thí dụ : trên đất cát ven biển miền Nam Trung Bộ đất xấu đến độ cỏ mọc cũng khó nhưng người ta vẫn trồng được mãng cầu dai, do nó chịu được mùa khô khắc nghiệt, không cần tưới. Một trái lớn nặng khoảng 150 - 250 g, có 65 - 70% cơm vừa một người ăn, do đó dễ bán.

Phân loại

a. Người ta phân biệt hai loại mãng cầu: dai và bở. Phân biệt ở chỗ mãng cầu dai thì các múi dính chặt vào nhau cả khi chín, dễ vận chuyển vì dù có bị động chạm mạnh trái không bị vỡ ra - vỏ cũng mỏng, có thể bóc ra từng mảng như vỏ quít. Mãng cầu bở, trái lại, khi chín múi nọ rời múi kia, động chạm hơi mạnh là trái vỡ ra. Thậm chí ngay khi còn ở trên cây, trái chưa chín hẳn có thể đã nứt. Độ ngọt của mãng cầu dai cũng cao hơn. Thực ra do chỉ nhân bằng hạt nhiều thế hệ, lai lẫn nhiều nên có nhiều loại có đặc tính trung gian giữa dai và bở.

Theo tài liệu ở Cuba có 2 giống mãng cầu dai tuy trái nhỏ nhưng không có hạt. Những giống này chưa được nhập vào Việt Nam.

Công tác chọn giống chưa làm được không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước khác vì mãng cầu dai cũng như mãng cầu xiêm còn là một cây ăn trái chưa được khai thác đúng mức.

b. Ở Việt Nam và còn ở nhiều nước nhiệt đới khác, mãng cầu dai vẫn còn được nhân bằng hạt vì những lý do sau :

Dùng hạt kinh tế : 1 trái có tới 50, 60 hạt, hạt nhỏ (1 kg có tới 3.000 hạt) có vỏ cứng bao quanh, nên bảo quản được 2 - 3 năm. Hạt tuy lâu nẩy mầm một chút nhưng sóc với cát cho sứt vỏ, hoặc xử lý axit sunfuric, ngâm nước nóng 55 - 600C trong 15 - 20 phút có thể mọc sau 2 tuần lễ.

Trồng từ hạt cũng chóng ra trái 2 - 3 năm là có thể ra trái và ghép không ra trái sớm hơn là bao, cây lại yếu.

Chưa có dòng vô tính, chưa có giống tốt được chính thức giới thiệu.

Tất nhiên dù trồng bằng hạt có thể gieo thẳng vào chỗ cố định cũng phải chọn cây, chọn trái, chọn hạt mẩy v.v...

Tương lai, mãng cầu dai rồi cũng nhân bằng phương pháp vô tính.

Trước hết phải chọn những cây mẹ có những đặc tính ưu việt như : trái to ít hạt, hạt nhỏ, độ đường cao, dễ vận chuyển (múi dính thành một khối)...

Trong các biện pháp nhân giống vô tính đã nghiên cứu, ghép là phương pháp ưu việt nhất. Như đã nói ở trên mãng cầu dai chỉ có thể ghép tốt trên 2 gốc ghép là mãng cầu dai và nê (có người gọi là bình bát vì trái giống bình bát) nhưng hạt nê khó kiếm, vậy tốt nhất là dùng gốc ghép mãng cầu dai. Có thể ghép áp, có thể ghép cành hay ghép mắt. Gốc ghép phải 1 - 2 tuổi. Cành ghép là cành đã hóa gỗ đường kính 1 cm trở lên lấy ở đoạn cành lá đã rụng hết. Cắt dài 12 cm, có thể ghép nêm vào cành gốc ghép, cũng có thể cắt ngọn gốc ghép rồi cắt vạt gốc ghép và cành ghép sao cho áp vào nhau vừa vặn. Vết cắt dài khoảng 5 - 6 cm.

Bình luận