Sầu riêng

Chi Sầu riêng (danh pháp khoa học: Durio) là một chi thực vật thuộc họ Cẩm quỳ (Malvaceae), (mặc dù một số nhà phân loại học đặt Durio vào một họ riêng biệt, Durionaceae), được biết đến rộng rãi tại Đông Nam Á.

Quả sầu riêng được nhiều người ở Đông Nam Á xem như là "vua của các loại trái cây". Nó có đặc điểm là kích thước lớn, mùi mạnh, và nhiều gai nhọn bao quanh vỏ. Quả có thể đạt 30 xentimét (12 in) chiều dài và 15 xentimét (6 in) đường kính, thường nặng một đến ba kilogram (2 đến 7 lb). Tùy thuộc vào từng loài mà quả có hình dáng từ thuôn đến tròn, màu vỏ từ xanh lục đến nâu, màu thịt quả từ vàng nhạt đến đỏ.

Thịt quả có thể ăn được, và tỏa ra một mùi đặc trưng, nặng và nồng, ngay cả khi vỏ quả còn nguyên. Một số người thấy sầu riêng có một mùi thơm ngọt ngào dễ chịu, nhưng một số khác lại không chịu nổi và khó chịu với cái mùi này. Mùi hương của sầu riêng tạo nên những phản ứng từ mê mẫn cho đến kinh tởm mãnh liệt, và được mô tả như mùi hành tây thối, nhựa thông hoặc nước cống. Do mùi của sầu riêng ám rất lâu cho nên nó bị cấm mang vào một số khách sạn và phương tiện giao thông công cộng ở Đông Nam Á.

Tên chi Durio (chi sầu riêng) có nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Á: người Việt gọi là sầu riêng, người Khmer gọi là turen và người Mã Lai - Nam Dương gọi là Djoerian (về sau viết là Doerian). Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới gọi loài cây/trái này là Durian hoặc có ký ngữ khác nhưng phát âm tương tự như chữ Durian.

Tuy nhiên, trong chi Durio chỉ có một loài là Durio zibethinus là phổ biến nhất. Trong thế kỷ 20 ở Việt Nam được biết tới 2 giống "sầu riêng mỡ" có lớp cơm màu trắng xám như mỡ và "sầu riêng đường" có lớp cơm màu vàng như đường mía. Theo thời gian, hoặc nhờ khám phá, hoặc nhờ gây giống, hiện nay sầu riêng (Durio zibethinus) có độ 70 giống (cultivar), trong đó giống "sầu riêng đường không hạt" có triển vọng và được giới tiêu thụ ưa chuộng hơn hết, phân loài này được gây giống đặc biệt ở Thái Lan và Việt Nam: múi ngọt, không có hạt hoặc hạt bị tiêu giảm.

Đặc điểm hình thái:

Cây sầu riêng có thể cao tới 40 mét. Lá luôn xanh, đối xứng hình êlip đến hình thuôn dài từ 10–18 cm. Hoa nở từng chùm từ 3-30 trên cành lớn và thân, mỗi hoa có đài hoa và 5 (ít khi 4 hay 6) cánh hoa.

Sầu riêng có thân cây lớn, quả có mùi độc đáo và vỏ có nhiều gai. Quả có dạng hình bầu dục đến tròn, với chiều dài 30 xentimét (12 in) và đường kính 15 xentimét (6 in), và trọng lượng từ 1 đến 2 kg. Cơm của quả thường có màu vàng nhạt.

Trái sầu riêng chín sau 3 tháng sau khi thụ phấn. Trái có thể dài tới 40 cm và đường kính 30 cm, nặng từ 1 đến 7 kg. Trái có thể mọc trên thân cây cành. Sầu riêng có thể có trái sau khi trồng 4 tới 5 năm. Màu của trái có thể từ xanh sang nâu, hình dạng thuôn đến tròn. Bên ngoài có lớp vỏ cứng bao với gai nhọn, và mùi nồng đặc trưng tỏa từ thịt bên trong. Nhiều người xem đó là thơm, nhưng có người cho đó là thối. Cả hai kết quả phẩm bình, tuy mâu thuẫn nhưng đều có lý. Trong trái sầu riêng chín, theo các chuyên gia hóa học, có hơn 100 chất, trong đó có một số thuộc ête (ether) thơm, và một số ête thối, có thành phần lưu huỳnh. Thơm hay thối là kết quả của khứu giác cá nhân: tiếp nhận ête thơm trước tiên, hay tiếp nhận ête thối trước tiên mà thôi.

Một đặc điểm nữa của trái sầu riêng là trái chín chỉ rơi (rụng) vào một thời điểm nhất định trong ngày: trái rơi (rụng) nhiều nhất vào lúc giữa đêm (từ 0 tới 1 giờ) và một số ít vào giữa trưa (12 tới 13 giờ), những giờ khác không có trái rơi (rụng). Nhờ đó con người tránh được tai nạn.

Trái sầu riêng có nhiều "múi", mỗi múi có 1 đến 3 hạt. Phần ăn được là phần thịt (cơm) bao quanh hạt cứng. Hạt có kích cỡ như hạt mít, có thể ăn được nếu được nướng, chiên hay luộc.

Phân bổ

Sầu riêng có nguồn gốc từ Đông Nam Á, được thế giới phương Tây biết đến khoảng 600 năm. Vào thế kỷ 19, nhà tự nhiên học người Anh Alfred Russel Wallace đã mô tả thịt của nó như là "một món trứng sữa nồng hương vị hạnh nhân". Có thể ăn thịt quả ở các độ chín khác nhau, và được sử dụng để tạo hương vị cho nhiều loại món ngọt và món mặn trong ẩm thực Đông Nam Á. Hạt của sầu riêng cũng có thể ăn được sau khi nấu chín.

Sầu riêng phân bố chủ yếu ở Indonesia (Nam Dương), Malaysia (Mã Lai) và Brunei, tuy nhiên có thể mọc ở mọi nơi có điều kiện khí hậu tương tự. Các vùng khác mà sầu riêng có thể mọc là Thái Lan, Mindanao (Philippines), Queensland ở Úc, Campuchia, Việt Nam, Lào, Ấn Độ, Sri Lanka và một phần của Hawaii.

Thái Lan là nước xuất khẩu chủ yếu sầu riêng.

Chăm sóc

1. Cây giống: Nên trồng bằng cây ghép (ghép mắt hoặc ghép cành), không nên trồng bằng hạt.

Tiêu chuẩn cây giống tốt:

  • Gốc ghép phải thẳng, đường kính gốc ghép 1,0 -1,5cm.
  • Bộ rễ phát triển tốt.
  • Thân thẳng và vững chắc, có từ 3 cành cấp 1 trở lên, các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống.
  • Chiều cao cây từ 80cm trở lên (tính từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi).
  • Cây phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn hiệu. Cây phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch bệnh chính như bệnh thán thư, bệnh do phytophthora, rầy phấn…

2. Đất trồng:

Đất trồng sầu riêng phải đảm bảo chủ động trong việc tưới và tiêu nước để đảm bảo đủ nước tưới trong mùa khô và thoát nước tốt trong mùa mưa cũng như có thể tạo khô hạn để xử lý cây ra hoa nghịch vụ. Do đó vườn cần phải có bờ bao, cống bọng chắn, có hệ thống mương liếp thông nhau.

Nếu bố trí liếp đơn trồng một hàng thì nên làm liếp rộng 5 - 6m, mương rộng 2 - 3m; nếu bố trí liếp đôi trồng 2 hàng thì nên làm liếp rộng 7 - 8m, mương rộng 4 - 5m.

3. Thời vụ trồng:

Nếu chủ động nước tưới thì có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa. Không nên trồng lúc mưa dầm vì cây sẽ chậm phát triển hoặc chết do nghẹt rễ.

4. Khoảng cách trồng:

Nên trồng thưa, cây cách cây từ 8 - 10m.

5. Cách trồng:

Cây phải trồng trên mô cao, độ cao và bề rộng mặt mô tùy điều kiện đất trồng. Đào hố trên mô đã đắp, hố có đường kính khoảng 0,6m và sâu khoảng 0,6m. Sau đó cho vào hố đã đào hỗn hợp 1 phần phân gà hoai mục với khoảng 3 phần đất mầu mỡ cộng khoảng 100g phân super lân.

Đào lỗ vừa bầu cây con, nhẹ nhàng loại bỏ vật liệu làm bầu, đặt cây vào lỗ vừa đào, lấp đất ngang mặt bầu cây con, ém đất xung quanh gốc, tưới đẫm nước, cắm cọc giữ cây không để gió lay làm ảnh hưởng đến rễ. Dùng rơm rạ hay cỏ khô tủ lên mô để giữ ẩm (không tủ sát gốc cây).

Cần che mát cây con thời gian đầu (chú ý: không che qúa 50% ánh sáng mặt trời).

Mô đất cần bồi rộng theo tán cây hàng năm.

6. Chăm sóc:

6.1 Giai đoạn sau khi trồng đến khi bắt đầu cho trái:

- Tưới nước: Cây con cần được tưới nước đầy đủ để giảm tỉ lệ cây chết, giúp cây khỏe, nhanh cho trái. Trong mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt.

- Làm cỏ - tủ gốc: Nên để cỏ trên mô nhưng cần làm cỏ xung quanh gốc sầu riêng để gốc được khô ráo, vì ẩm độ cao sẽ thích hợp cho nấm Phytophthora palmivora phát triển và gây hại. Trong mùa khô cần dùng cỏ khô hoặc rơm rạ phủ đất giữ ẩm xung quanh gốc cây, nên phủ cách gốc 10 - 50cm tùy độ lớn của cây.

- Tỉa cành, tạo tán: Trong năm thứ hai, thứ ba khi cây chưa cho trái cần tỉa bỏ những cành bị che khuất, cành yếu, cành bị sâu bệnh, cành mọc qúa gần mặt đất. Chỉ để 1 ngọn với các cành ngang khỏe mạnh phân bố đều trên thân chính. Cần quét sơn cho các vết cắt có đường kính lớn hơn 1cm. Lưu ý: Tỉa cành xong mới tiến hành bón phân.

- Bón phân: Giai đoạn cây con và những năm đầu cho trái: hàng năm mỗi gốc bón 5 - 10kg phân gà đã ủ hoai mục (hoặc các dạng phân hữu cơ khác) kết hợp phân vô cơ có chứa nhiều đạm và lân như 18-11-5 hoặc 15-15-6. Liều lượng phân vô cơ tăng dần theo độ lớn của cây, năm đầu tiên khoảng 0,3kg/gốc/năm, chia nhiều lần bón. Nên sử dụng phân NPK có bổ sung thêm chất Ma-nhê (Mg). Chú ý: Không sử dụng các loại phân có chứa chất Clor (Cl).

6.2 Giai đoạn cây cho trái ổn định:

* Từ sau thu hoạch đến xử lý ra hoa:

a. Tỉa cành và kích thích ra đọt:

Tiến hành ngay sau khi thu hoạch nhằm kích thích cho cây sầu riêng ra đọt tập trung sẽ hạn chế được sự ra hoa làm nhiều đợt trong năm. Cây cần ra ít nhất 2 lần đọt trước khi tiến hành xử lý ra hoa.

- Tỉa cành: Tỉa bỏ chồi vượt, cành bị sâu bệnh và những cành đan chéo lẫn nhau.

- Kích thích ra đọt:

+ Bón phân: Bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục kết hợp với phân bón có hàm lượng đạm cao như 18-11-5 (liều lượng 1 - 2kg/cây có đường kính tán 5 - 6m đang phát triển bình thường), 30-20-5… (không bón phân có chứa chất Clor). Có thể phun thêm phân bón lá 33-11-11 hoặc 20-20-0, 16-16-8 cùng với GA3 (gibberellin) ở nồng độ 5 - 10ppm để kích thích tạo chồi mới khỏe.

+ Tưới nước: Tưới đủ ẩm, tưới 1 - 2ngày/lần vào mùa khô để kích thích cho cây ra đọt tốt.

Khi cơi đọt thứ nhất đã thành thục, bón phân (loại phân như lần bón trước) và tưới nước để kích thích cây ra cơi đọt thứ hai.

b. Xử lý ra hoa (áp dụng khi xử lý ra hoa nghịch vụ):  

- Khi lá cơi đọt cuối chuyển sang lụa, tiến hành bón phân có hàm lượng lân cao như 10-50-17 (liều lượng 1 - 2kg/cây có đường kính tán 5 - 6m đang phát triển bình thường) hoặc sử dụng phân lân super và phân kali để bón (không bón phân có chứa chất Clor) để giúp qúa trình ra hoa dễ dàng. Tưới nước đủ ẩm để cơi đọt phát triển tốt.

- Khi lá cơi đọt cuối đã phát triển thành thục (chuyển xanh), tiến hành tạo khô hạn cho cây bằng các biện pháp như:

+ Quét dọn tất cả vật liệu tủ gốc, xẻ rãnh liếp, không tưới nước, tháo cạn nước trong mương vườn để giúp đất vùng rễ cây khô nhanh.
+ Phủ vải nhựa: Khi đất bên dưới tán cây khô ráo ta tiến hành phủ vải nhựa nhằm đảm bảo nước không đến vùng rễ cây.

- Có thể kết hợp phun paclobutrazol. Chú ý: Chỉ áp dụng đối với cây phát triển xanh tốt và sử dụng theo khuyến cáo ghi trên bao bì.

- Để giúp cho việc ra hoa tốt hơn có thể phun thêm các loại phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao như MKP (0-52-34). Lặt bỏ các chồi non nhú trong cành.

Nếu thời tiết thích hợp cây sẽ ra hoa sau 20 - 30 ngày. Thời gian từ khi bắt đầu xử lý đến khi ra hoa phụ thuộc vào từng giống, lượng mưa và ẩm độ đất.

Lưu ý: Cây sầu riêng ra hoa và phát triển hoa tốt khi:

+ Cây thật khỏe mạnh và cân đối dinh dưỡng.
+ Cây trãi qua một thời kỳ khô hay mát. Do đó để cây sầu riêng ra hoa tốt cần có thời gian khô hạn liên tục từ 7 - 14 ngày. Nhiệt độ không khí từ 20 - 22oC, ẩm độ 50 - 60%. Việc tạo khô hạn phải thật tốt thì cây sầu riêng mới có thể  ra hoa.
* Từ khi cây ra hoa đến lúc hoa nở:

- Khi thấy mầm hoa xuất hiện tiến hành giở vải nhựa đậy mặt liếp, bón phân và tưới nước cho mầm hoa phát triển (cho nước vô mương từ từ và giữ nước cách mặt liếp 60 - 80cm). Có thể bón thêm phân NPK như 15-15-15 để thúc mầm hoa.
- Tỉa hoa: Cây sầu riêng thường ra rất nhiều hoa và ra nhiều đợt, do đó cần tỉa thưa hoa. Tùy thuộc vào ý định về thời điểm thu hoạch trái mà nhà vườn chọn để lại hoa ra ở đợt nào. Không nên giữ lại tất cả các hoa. Bởi vì hiện tượng cạnh tranh dinh dưỡng có thể làm rụng hoa, làm hoa phát triển không bình thường ảnh hưởng đến việc thụ phấn và đậu trái.
- Hoa nở sau 45 - 60 ngày.
- Chú ý: Giai đoạn cây ra hoa cần tưới nước cách ngày để giúp hoa phát triển tốt, hạt phấn khỏe mạnh. Nhưng cần giảm khoảng 2/3 lượng nước ở mỗi lần tưới vào thời điểm 1 tuần trước khi hoa nở để giúp hạt phấn khỏe có khả năng thụ phấn, đậu trái tốt (Chú ý: giảm lượng nước tưới nhưng không để héo cây, héo hoa).

* Từ khi hoa nở đến thu hoạch trái:

- Thụ phấn nhân tạo: Khi hoa nở, nên giúp cây thụ phấn thêm bằng tay vào khoảng 20 giờ  để việc thụ phấn được tốt nhằm tạo trái sầu riêng đầy đặn, không bị lép do thụ phấn không hoàn toàn.

- Bón phân:

+ Khi trái to bằng trái chôm chôm bón phân có hàm lượng kali cao như 12-12-17, 12-11-18 (không bón phân có chứa chất Clor). Nên chia ra nhiều lần bón để tránh kích thích cây ra đọt, khoảng 2 tuần bón một lần, lần bón cuối cùng không nên trễ hơn 1 tháng trước thu hoạch. Bổ sung thêm phân kali ở lần bón cuối cùng để tăng chất lượng trái.
+ Có thể phun phân bón lá có nhiều kali ở tuần thứ 5 - 9 sau khi đậu trái (1tuần/lần) để góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất trái.

- Quản lý nước:

+ Sau khi đậu trái tăng dần lượng nước đến mức bình thường trở lại để giúp trái phát triển khỏe, chất lượng cao. Giai đoạn này nếu trời khô tưới 3 - 4ngày/lần. Tưới qúa đẩm hay mưa nhiều dễ làm cho cây sầu riêng ra đọt non sẽ làm rụng trái non hay làm cho trái bị sượng nhưng nếu thiếu nước trái sẽ phát triển chậm. Do đó cần tưới đủ ẩm và đều đặn. Giữ mực nước trong mương vườn thường xuyên ở độ sâu khoảng 80cm từ mặt liếp. Tránh thay đổi đột ngột ẩm độ đất để hạn chế hiện tượng rụng trái.
+ Trước khi thu hoạch khoảng 15 - 20 ngày: Cắt nước để trái mau chín vì giai đoạn nầy trái sầu riêng không còn tăng trưởng nữa. Thời điểm cắt nước có thể muộn hơn trong mùa khô. Trong mùa mưa có thể kết hợp với đậy gốc bằng nylon để tránh cho trái bị nhão cơm hoặc ngưng thu hoạch 2 ngày sau khi có mưa lớn.

- Tỉa trái:

+ Thực hiện 2 hay 3 lần ở giai đoạn 4 - 10 tuần sau khi đậu trái nhằm để lại những trái ở những vị trí thích hợp.
+ Không để trái ở trên ngọn cây (trừ những trái ở sát thân chính), trái mọc trên thân chính, trái ở những cành nhỏ.
+ Chừa lại 1 - 2trái/chùm.
+ Số trái/cây tùy tuổi cây, tình trạng cây, giống sầu riêng.

- Thu hoạch:

Nên thu trái từ trên cây và không để trái rụng xuống đất, cần chú ý không cho sự va chạm làm trầy xước trái, giữ trái nơi thoáng mát… để giảm sự thiệt hại ở giai đoạn sau thu hoạch.

Bệnh

A. SÂU HẠI

1. Sâu đục trái (Conogethes punctiferalis [Guenée]):

Trưởng thành hoạt động về đêm, ban ngày chúng ẩn nấp ở nơi tối hoặc mặt dưới lá cây. Cả thành trùng đực và cái đều ăn mật hoa. Trưởng thành cái đẻ trứng trên vỏ trái non, sâu non nở ra thường ăn ở phần vỏ rồi đục vào trong trái, sau đó hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ trái.

Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn độc, trái non bị hại sẽ biến dạng và rụng, trái lớn bị hại sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm và còn tạo điều kiện các loại nấm bệnh tấn công theo vết đục làm thối trái.

Cách quản lý:
- Bao trái.
- Cắt tỉa trái xấu phát triển kém, trái bị nhiễm trong chùm trái.
- Dùng cây nhỏ tách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại.
- Tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế sâu hại, có một số loài ong có thể ký sinh trứng, ấu trùng và nhộng, ngoài ra còn có các loài ăn thịt như bọ xít, kiến và nhện.
- Phun thuốc bảo vệ thực vật. Cần chú ý thời gian cách ly của mỗi loại thuốc để đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

2. Rầy phấn (Allocaridara malayensis Crawford):

Đây là đối tượng gây hại rất quan trọng trên cây sầu riêng. Trưởng thành và ấu trùng thường sống ở mặt dưới lá và chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng, khi bị hại nặng lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa, đậu qủa của cây.

Ngoài ra, rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện để nấm bồ hóng phát triển. Rầy phát triển nhiều trong các tháng nắng.

Cách quản lý:

- Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dễ trừ rầy.
- Sử dụng bẫy màu vàng để bắt trưởng thành.
- Phun nước khi lá vừa mở để làm giảm mật độ rầy.
- Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh họ Encyrtidae, bọ rùa, Green lacewing và nhện gây hại cho rầy, do đó cần tạo điều kiện cho chúng phát triển nhằm giảm mật độ rầy.
- Khi mật độ rầy cao có thể dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật như Confidor, Actara, Applaud… phun theo liều lượng khuyến cáo.

3. Nhện đỏ (Eutetranychus sp.):

Thành trùng có hình oval dẹp màu đỏ đến đỏ nâu dài 0,3 - 0,4mm, con đực nhỏ hơn con cái chiều dài trung bình 0,26mm phần bụng thon dần về phía cuối bụng. Thành trùng sống khoảng 6 - 7 ngày. Nhện đẻ từng trứng rải rác trên mặt lá, trứng nhện hình tròn màu đỏ. Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm ở vùng nhiệt đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng đời rất ngắn, gây hại bằng cách ăn biểu bì mặt lá tạo thành những chấm trắng li ti và tiết độc tố. Khi bị nhiễm nặng lá chuyển màu vàng và rụng ảnh hưởng đến khả năng ra hoa và đậu trái của cây.

Cách quản lý:

- Trong điều kiện tự nhiên nhện hại bị nhiều loại thiên địch tấn công như nhện nhỏ ăn mồi… cần tạo điều kiện cho thiên địch phát triển cũng hạn chế được tác hại của nhện.
- Phun nước lên tán lá tạo ẩm độ cao trong vườn trong mùa nắng có thể làm giảm mật độ của nhện đồng thời cũng tạo điều kiện cho thiên địch phát triển.
- Khi mật độ nhện cao mới dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật như Comite 75EC, Kumulus, Sulox 80WP, Dầu DC-Tron plus… để phun theo liều lượng khuyến cáo.

4. Rệp sáp (Planococcus sp.):

Loài này gây hại khá phổ biến trên sầu riêng, chúng tấn công trên trái từ khi trái còn non, rệp sáp trong qúa trình gây hại còn tiết ra mật đường tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển làm giảm giá trị thương phẩm của trái.

Cách quản lý:

- Phun nước vào trái có thể rửa trôi rệp sáp trên trái, tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng, tránh trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu.
- Chỉ nên phun thuốc bảo vệ thực vật khi mật độ rệp cao.

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh xì mủ chảy nhựa (do nấm Phytophthora palmivora):

Đây là bệnh hại rất quan trọng trên cây sầu riêng. Tác nhân do nấm Phytophthora palmivora gây hại, nấm lưu tồn chủ yếu trong đất, trong nước, trong các bộ phận bị bệnh của cây sầu riêng. Nấm tấn công phần rễ non gần mặt đất và lan dần đến phần vỏ của gốc cây sát mặt đất và di chuyển lên phần vỏ của thân cây làm vỏ cây bị biến màu nâu, sau đó vỏ cây bị thối và chảy nhựa ra, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu. Đôi khi nấm còn tấn công các cành phía trên cao của cây sầu riêng.

Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa và dễ dàng gây hại trong các vườn trồng dày có tán lá rậm rạp, chăm sóc kém. nấm bệnh còn tấn công trên trái làm thối trái hàng loạt và trên lá sầu riêng nhất là các lá non ở các cà

Tác dụng y học

Nguồn năng lượng tuyệt vời

Nếu bạn tiêu thụ khoảng 234g sầu riêng điều đó tương đương với bạn hấp thụ khoảng 20% lượng carbohydrate cần trong một ngày. Như thế sầu riêng chính là lựa chọn hoàn hảo dành cho bạn khi đang có nhu cầu bổ sung thêm năng lượng cho cơ thể, bởi lẽ chỉ cần ăn 1/5 trái sầu riêng bạn đã có thể bổ sung nguồn năng lượng cần thiết cho cả một ngày dài.

Chứa nhiều chất béo và calo

Một khẩu phần ăn chỉ có sầu riêng có chứa hơn 350 calo và 13g chất béo. Rất may mắn rằng loại chất béo này không gây hại cho cơ thể của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn không có nhu cầu tăng cân liên tục thì nên biết kiềm chế với loại trái cây hấp dẫn này.

Cung cấp lượng chất xơ tối ưu

Một trong những lợi ích của sầu riêng chính là có chứa hàm lượng chất xơ cao. Mỗi khẩu phần ăn nên cần chứa 9g chất xơ tương đương 37% nhu cầu hàng ngày của bạn, điều này thật khó thực hiện khi hầu như loại vi chất này có nhiều trong trái cây hơn là các bữa ăn. Chính vì thế, nếu bạn cần hấp thụ một lượng chất xơ ổn định, thì sầu riêng là loại trái cây tốt để bạn sử dụng.

Giàu vitamin C

Điều đó có nghĩa là bạn sẽ nhận được tất cả những lợi ích mà vitamin C mang lại cho cơ thể của bạn như chống lại bệnh tật, hỗ trợ chữa lành vết thương, giúp giảm cholesterol và cải thiện lưu lượng máu. Có rất nhiều lợi ích mà vitamin C sẽ mang lại cho sức khỏe của bạn và sầu riêng chính là loại trái cây có khá “dư thừa” loại vi chất này.

Ngoài ra còn chứa khá nhiều vitamin B

Sầu riêng có chứa một lượng vitamin B khá cao, các vitamin B sẽ có một loạt các lợi ích cho sức khỏe như ngăn ngừa lão hóa và bệnh tim, giúp tăng HDL (cholesterol tốt) và thậm chí có thể giúp cải thiện tâm trạng, giảm bớt trầm cảm.

Có chứa sắt và đồng

Sầu riêng có chứa nhiều chất sắt và đồng. Đồng và sắt là những chất cần thiết cho sự hình thành và tạo ra các tế bào hồng cầu khỏe mạnh. Sầu riêng cũng chứa mangan giúp hỗ trợ cho xương và sức khỏe làn da.

Hàm lượng kali đáng kể

Kali là một chất điện phân quan trọng giúp kiểm soát huyết áp, giữ cho nồng độ natri ở mức độ cho phép và giúp điều hòa nhịp tim. Sầu riêng chính là loại trái cây chứa một lượng kali phong phú rất hữu ích cho sức khỏe của bạn.

Sầu riêng có tryptophan

Trytophan còn được gọi là thuốc ngủ tự nhiên và nó có trong sầu riêng. Điều này có nghĩa là, sầu riêng sẽ giúp hỗ trợ bạn có giấc ngủ ngon và sâu hơn.

Một nguồn Thiamin tốt

Thitamin có thể giúp cơ thể chuyển hóa carbohydrate thành năng lượng và hỗ trợ trong phát triển cơ bắp và sức khỏe thần kinh. Nếu bạn đang muốn bổ sung Thiamin thì hãy dùng sầu riêng, một khẩu phần sầu riêng chứa khoảng 30% lượng Thiamin khuyến cáo hằng ngày dành cho bạn.

Rất nhiều phốt phát

Cuối cùng, sầu riêng có chứa nhiều phốt phát hay còn gọi là axit pholic. Loại chất này có thể hỗ trợ trong việc ngăn ngừa bệnh tim, phát triển bào thai (nếu bạn đang mang thai) và thậm chí còn giúp hỗ trợ chức năng não. Một khẩu phần ăn sầu riêng chứa khoảng 20% nhu cầu axit pholic hàng ngày của bạn.

Giá trị kinh tế

Nhờ cây sầu riêng mà nhiều hộ gia đình khó khăn tại xã đã vươn lên thoát nghèo bền vững. Một số  tỉ phú nông dân đã xây biệt thự trên vùng đất cù lao này nhờ xử lý sầu riêng cho trái nghịch vụ.

Phân loại

Các giống sầu riêng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và trồng phổ biến hiện nay như:

1. Giống sầu riêng Monthong:

Cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, dạng tán hình tháp, lá thuôn khá dài, mặt trên bóng láng, phẳng và có màu xanh hơi sậm, khả năng sinh trưởng mạnh.

Trồng cây ghép sẽ cho trái khá sớm sau 3 năm trồng, nếu được chăm sóc tốt. Thời gian từ khi nở hoa đến thu hoạch từ 3,5 - 4 tháng. Năng suất khá cao và khá ổn định (140kg/cây/năm đối với cây khoảng 9 năm tuổi).

Trái khá to (2,5 - 4,5kg/trái), thường có dạng hình trụ, vỏ trái màu vàng nâu khi chín, cơm trái màu vàng nhạt, xơ to trung bình, ráo, vị ngọt béo, thơm trung bình, hạt lép nhiều, tỉ lệ cơm cao (31,3%).

2. Giống sầu riêng Ri 6:

Cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, phân cành ngang đẹp, dạng tán hình tháp, lá hình xoan và có màu xanh đậm mặt trên.
Cây cho trái khá sớm sau 3 năm trồng, nếu được trồng bằng cây ghép và chăm sóc tốt. Thời gian từ khi nở hoa đến khi thu hoạch từ 3 - 3,5 tháng.

Trái có trọng lượng trung bình 2 - 2,5kg/trái, có hình elip, vỏ trái có màu vàng khi chín, cơm trái có màu vàng đậm, không xơ, ráo, vị béo ngọt, thơm nhiều, hạt lép nhiều và tỉ lệ cơm cao (33%).

3. Giống sầu riêng cơm vàng sữa hạt lép (sầu riêng Chín Hóa):

Cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, dạng tán hình tháp, lá thuôn dài, mặt trên bóng láng và có màu xanh đậm.
Cây cho trái khá sớm sau 4 năm trồng, nếu được trồng từ cây ghép và chăm sóc tốt. Thời gian từ khi nở hoa đến khi thu hoạch từ 3,5 - 4 tháng.

Trái khá to (2,6 - 3,1kg/trái), dạng hình cầu cân đối, vỏ trái màu vàng đồng đều khi chín, cơm trái màu vàng, không xơ, vị béo ngọt, mùi thơm, hạt lép nhiều và tỉ lệ cơm khá cao (28,8%), hơi nhão (nếu để muộn).

Bình luận