Vải (vải thiều)

Cây vải, còn gọi là lệ chi (danh pháp hai phần: Litchi chinensis) là loài duy nhất trong chi Litchi thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae). Loài này được Sonner miêu tả khoa học đầu tiên năm 1782.

Vải là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc; tại đó người ta gọi là 荔枝 (bính âm: lìzhī, Hán-Việt: lệ chi), phân bố trải dài về phía nam tới Indonesia và về phía đông tới Philippines (tại đây người ta gọi nó là alupag).

Vải là cây thường xanh với kích thước trung bình, có thể cao tới 15–20 m, có lá hình lông chim mọc so le, mỗi lá dài 15–25 cm, với 2-8 lá chét ở bên dài 5–10 cm và không có lá chét ở đỉnh. Các lá non mới mọc có màu đỏ đồng sáng, sau đó chuyển dần thành màu xanh lục khi đạt tới kích thước cực đại. Hoa nhỏ màu trắng ánh xanh lục hoặc trắng ánh vàng, mọc thành các chùy hoa dài tới 30 cm.

Quả là loại quả hạch, hình cầu hoặc hơi thuôn, dài 3–4 cm và đường kính 3 cm. Lớp vỏ ngoài màu đỏ, cấu trúc sần sùi, không ăn được nhưng dễ dàng bóc được. Bên trong là lớp cùi thịt màu trắng mờ, ngọt và giàu vitamin C, có kết cấu tương tự như của quả nho. Ở giữa quả là một hạt màu nâu, dài 2 cm và đường kính cỡ 1-1,5 cm. Hạt - tương tự như hạt của quả dẻ ngựa - có độc tính nhẹ và không nên ăn. Quả chín vào giai đoạn từ tháng 6 (ở các vùng gần xích đạo) đến tháng 10 (ở các vùng xa xích đạo), khoảng 100 ngày sau khi cây ra hoa.

Phân bổ

Vải được trồng nhiều tại miền nam Trung Quốc cũng như ở khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, miền nam Nhật Bản và gần đây là tại Florida và Hawaii (Hoa Kỳ) cũng như các khu vực ẩm ướt thuộc miền đông Australia. Vải cần có khí hậu nóng vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới không có sương giá hoặc chỉ có mùa đông rét nhẹ với nhiệt độ không xuống dưới -4 °C và với mùa hè nóng bức, nhiều mưa và độ ẩm cao. Nó phát triển tốt trên các loại đất thoát nước tốt, hơi chua và giàu chất hữu cơ (mùn). Có nhiều giống cây trồng, với các giống chín sớm thích hợp với khí hậu nóng hơn còn các giống chín muộn thích hợp với khí hậu mát hơn. Ở một vài nơi người ta còn trồng vải làm cây cảnh.

Hạt vải nảy mầm với rễ cái (khoảng 3 tháng tuổi)
Quả vải nói chung được bán để ăn tươi tại các chợ khu vực (trong những năm gần đây nó cũng được bán rộng rãi tại các siêu thị phương Tây). Vỏ màu đỏ chuyển thành nâu sẫm khi quả được vận chuyển bằng các phương tiện đông lạnh, nhưng mùi vị gần như không bị ảnh hưởng. Dưới dạng đóng hộp nó được bầy bán quanh năm.

Nguồn dẫn chiếu lịch sử chính thức đầu tiên của Trung Quốc về cây/quả vải có ở thời nhà Đường, khi nó là loại quả ưa thích của Dương Quý Phi, người thiếp yêu của hoàng đế Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng).

Người Quảng Đông cho rằng "ăn một quả vải bằng giữ ba ngọn đuốc trong người" (nguyên văn: 一啖荔枝三把火, nhất đạm lệ chi tam bả hỏa). Điều này muốn nói đến thuộc tính dương (nóng) của loại quả này. Ăn quá nhiều vải làm khô môi và có thể gây chảy máu cam ở một số người, cũng như có thể gây ra mụn nhọt hay loét miệng. Ngược lại, loại quả từ cây có quan hệ họ hàng là nhãn lại được coi là có các tính chất bổ dưỡng.

Giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là vải thiều trồng tại khu vực huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.[cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, vải được trồng nhiều nhất ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Quả vải tại vùng Thanh Hà (Hải Dương) thông thường có hương vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác (mặc dù cũng lấy giống từ đây).[cần dẫn nguồn] Một giống vải khác chín sớm hơn, có tên gọi dân gian là "vải tu hú", có hạt to hơn và vị chua hơn so với vải thiều. Nguyên do có tên gọi như vậy có lẽ là vì gắn liền với sự trở lại của một loài chim di cư là chim tu hú.

Vải ra hoa vào tháng 3 dương lịch và chín vào tháng 6. Thời điểm vải chín rộ thường bắt đầu từ giữa tháng 6 tới giữa tháng 7. Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Vì vậy nên với sản lượng lớn, người ta thường chế biến bằng cách sấy khô, sản phẩm sau đó gọi là vải khô.

Trong lịch sử Việt Nam, vải gắn liền với hai nhân vật lịch sử của Việt Nam là Mai Thúc Loan[cần dẫn nguồn]  và Nguyễn Trãi. Mai Thúc Loan xuất thân là phu khuân vải cống nạp cho nhà Đường của Trung Quốc. Ông đã lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và sau lên ngôi làm Mai Hắc Đế. Vải còn được biết đến ở Việt Nam qua vụ án Lệ Chi Viên (Vụ án vườn vải) liên quan đến Nguyễn Trãi.

Chăm sóc

Chọn đất: Cây vải không kén đất, yêu cầu quan trọng nhất của đất trồng vải là phải thoát nước, tầng đất dày, tuy nhiên đối vỏi trồng bằng cành chiết, bộ phận rễ phát triển kém, đưa lên đồi phải giữ ẩm tốt và giữ cho cây khỏi lay gốc để đảm bảo tỷ lệ sống sau trồng cao. Đối với đất đồi, trồng vải phải chọn nơi có độ dốc thấp, nhất thiết phải trồng theo đường đồng mức và phải có băng cây chống xói mòn.

Thời vụ trồng: Vụ Xuân trồng tháng 3-4 và vụ Thu trồng tháng 8-9.

Mật độ trồng: 400 cây/ha, khoảng cách trồng 6 m x 4 m.

Đào hố trồng: Đất bằng, thấp, đào hố rộng 70-80 cm, sâu 70 cm; đất đồi đào hố rộng 70-80 cm, sâu 80-100 cm, lớp đất mặt để một bên.

Bón phân lót: Trước khi trồng 1 tháng, trộn 20-30 kg phân chuồng, 0,7 kg phân lân + cỏ + rác + phân xanh lấp kín đến miệng hố rồi lấp đất mặt cho bằng miệng hố.

Trồng cây vải thiều: Khi trồng bới một lỗ nhỏ giữa hố định sẵn, sâu 15-20 cm, đặt cây rồi lấp đất kín bầu, lấy tay ấn chặt. Chú ý không dùng chân giẫm lên mặt bầu. Trồng xong đóng cọc, buộc cây vào cọc chống gió làm lay gốc-trồng xong tưới nước cho cây.

Chăm sóc cây vải thiều:

- Tưới nước: Sau trồng phải thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho cây chóng bén rễ.

- Bón phân: Ba năm đầu dùng nước phân pha loãng để tưới. Từ năm thứ 4 trở đi hàng năm bón cho mỗi cây 40-50 kg phân chuồng + 1,5 kg đạm urê + 2kg lân + 0,7 kg kali, chia làm 3 đợt để bón.

Đợt 1: Tháng 10-11, bón 100% phân chuồng + 40% lượng đạm + 40% lượng lân. Đợt 2: Tháng 12-1, bón thúc lúc phân hóa mầm hoa, bón 40% lượng đạm+ 30% lượng lân + 40% lượng kali. Đợt 3: Tháng 3-4, bón hết số phân cần bón trong năm.

- Đốn tỉa, tạo hình: Ngay khi cây ở vườn ươm, tạo cho cây có một thân chính và 3 cành hướng về 3 phía. Hàng năm cắt bỏ cành tăm, cành vượt, cành sâu bệnh. Loại bớt cành vụ đông, chăm sóc, bảo vệ cành vụ thu và vụ xuân. Khi cây ra quả bói ( ra lứa hoa, quả đầu tiên) cần cắt bỏ cho cây khoẻ.

Bệnh

- Bọ xít: Phát triển mạnh vào tháng 3-4 làm rụng quả, dùng Drotox, Bi 58 nồng độ 0,1-0,7 %, Dipterex nồng độ 1% phun trừ bọ xít non, hoặc chọn ngày tối trời rung cây, bọ xít rụng xuống bắt và diệt.

- Sâu đục cành: sâu trưởng thành là loại xén tóc đẻ trứng lên cành, sâu non đục vào thân cành làm cành bị gẫy, khô. Dùng gai mây hoặc dây thép chọc vào lỗ trực tiếp diệt sâu. Dùng thuốc padan 15 SP, nồng độ 30-40gr/ 10 lít nước nhỏ vào lỗ sâu đục.

- Nhện 4 chân: Miệng chích hút ở dưới mặt lá, xuất hiện những lông nhung màu đỏ, ngắt lá bị hại đem đốt hoặc dùng thuốc hoá học ortors nồng độ phun 0,05-0,1 %, Bi 58 nồng độ phun 0,1%.

Tác dụng y học

1. Chống ung thư

Vải có đặc tính chống ung thư. Loại trái cây này có chứa flavones, quercitin và kaemferol là những hợp chất mạnh mẽ trong việc chống lại sự phát triển các tế bào ung thư, đặc biệt là ung thư vú.

2. Bệnh tim mạch

Một cốc nước ép vải hàng ngày giúp ổn định nhịp tim và huyết áp, phòng chống đột quỵ và bệnh tim mạch vành. Vải xếp thứ hai trong danh mục trái cây chứa nhiều polyphenol giúp gia tăng sức khỏe tim mạch. Chất chống oxy hóa có trong vải giúp cải thiện hệ miễn dịch, làm chậm sự tiến triển của bệnh đục thủy tinh thể và phòng chống các bệnh liên quan đến tim mạch.

3. Hỗ trợ tiêu hóa

Vải chứa các chất xơ hòa tan giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh, đào thải các chất độc trong dạ dày, cải thiện vị giác, làm sạch ruột kết, chữa trị chứng ợ nóng và cảm giác rát ở dạ dày. Tinh chất làm se có trong hạt vải còn được sử dụng trong việc chữa trị các vấn đề về đường ruột và tẩy giun ruột.

4. Giúp xương chắc khỏe

Vải rất giàu phốt pho, magiê và khoáng chất như đồng, mangan, giúp xương chắc khỏe. Các hoạt chất này giúp gia tăng hiệu quả hoạt động của vitamin D, thúc đẩy cơ chế đồng hóa canxi, từ đó duy trì sức khỏe của xương.

5. Vitamin C

Vải là nguồn cung cấp vitamin C tuyệt vời. Tiêu thụ các loại thức ăn giàu vitamin C giúp tăng sức đề kháng chống lại các bệnh truyền nhiễm hay viêm như cảm, sốt, viêm họng. Vải hỗ trợ tiêu hóa để cơ thể có được dinh dưỡng tối đa. Vitamin C tốt cho da, xương, các mô, được đánh giá là loại vitamin rất quan trọng cho cơ thể.

6. Giảm nếp nhăn và tàn nhang

Oligonol là một polyphenol được tìm thấy nhiều trong quả vải. Oligonol có nhiều chất chống oxy hóa và chống lại hoạt động của virus cúm. Chất này cũng giúp cải thiện lưu thông máu, giảm cân và bảo vệ da khỏi tia cực tím. Oligonol giúp giảm mỡ, tăng tuần hoàn máu, giảm mệt mỏi khi tập thể dục, tăng khả năng chịu đựng và làm giảm nếp nhăn, tàn nhang.

7. Vitamin B

Vải thiều là nguồn cung cấp các vitamin nhóm B như thiamin, riboflavin, niacin và folate. Những vitamin này giúp cơ thể chuyển hóa cacbohydrat, protein và chất béo. Vải cũng chứa nhiều bete caroten, giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, cải thiện chức năng gan và các cơ quan khác.

8. Giảm cân

Vải chứa ít calo, không có chất béo bão hòa hay cholesterol mà lại rất giàu chất xơ nên thích hợp với những người muốn giảm cân.

9. Cải thiện làn da

Vải thiều giúp nuôi dưỡng da dầu, giảm sự phát triển của trứng cá. Các hoạt chất trong loại trái này giúp đào thải các chất độc, mang lại cho bạn một làn da đẹp và khỏe mạnh.

10. Chống lão hóa

Vải có hàm lượng cao vitamin C chống oxy hóa và các vitamin nhóm B. Những chất này giúp bảo vệ cơ thể khỏi bị lão hóa từ ô nhiễm môi trường và tia cực tím, bảo vệ da khỏi bị hư hại. Do đó, ăn một lượng vải vừa đủ có thể giúp chống lại ung thư da hay viêm da.

11. Các chất dinh dưỡng thân thiện với da

Vải là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng thân thiện với da như thiamin, niacin và đồng. Thiamin giúp chuyển hóa chất béo và protein cho da khỏe mạnh. Niacin làm tăng độ ẩm cho da trong khi với một lượng nhỏ đồng sẽ giúp tăng tốc độ làm liền da.

12. Duy trì tóc khỏe

Vitamin C, niacin và thiamin là những dưỡng chất thiết yếu trong việc nuôi dưỡng tóc. Vitamin C đóng vai trò tích cực, bảo đảm cung cấp đủ máu đến nang tóc của bạn.

Giá trị kinh tế

Những năm qua, cây vải thiều ngày càng khẳng định được giá trị kinh tế và là cây trồng thế mạnh của tỉnh. Cùng với công tác chỉ đạo, sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành chức năng trong việc hỗ trợ nhân dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ vải thiều, người dân đã quan tâm áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăm sóc, do vậy chất lượng quả vải được nâng lên.

Năm 2013, thời tiết không thuận lợi cho việc ra hoa và kết trái, xong sản lượng vẫn đạt lớn. Với tổng diện tích trên 31.000 ha, sản lượng toàn tỉnh đạt trên 130.000 tấn quả tươi. Cụ thể: Huyện Lục Ngạn đạt 72.000 tấn, Lục Nam 25.000, Tân Yên 8.000 tấn tấn, Lạng Giang 7.500 tấn, Yên Thế 15.000 tấn, Sơn Động 4.000 tấn. Trong đó, vải sớm 21.000 tấn (chiếm 16%), vải muộn khoảng 110.000 tấn (chiếm 84%). 

Thị trường xuất khẩu gồm Trung Quốc, Lào, Campuchia,...(quả tươi và sấy khô), một số nước Châu Âu (vải thiều chế biến) chiếm khoảng 40% sản lượng. Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu truyền thống quan trọng, chủ yếu  của vải thiều Bắc Giang, chiếm khoảng 95% tổng sản lượng xuất khẩu, tương ứng khoảng 50.000 tấn; xuất khẩu theo cả đường chính ngạch và tiểu ngạch (chủ yếu là chính ngạch); Tập trung qua các cửa khẩu Tân Thanh, Cốc Nam, Nà Nưa (tỉnh Lạng Sơn); cửa khẩu Kim Thành và quốc tế Lào Cai (tỉnh Lào Cai); cửa khẩu Thanh Thủy (Hà Giang), cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh).

Phân loại

Cây vải đã được trồng ở nước ta cách đây hàng nghìn năm, nhưng đến nay các nghiên cứu về vải chưa nhiều. Trong thực tiễn hiện nay có 3 nhóm  chính:

1. Vải chua: Cây mọc khỏe, quả to trọng lượng trung bình 20 - 50g. Hạt to. Tỷ lệ ăn được chiếm 50 - 65%. Là loại chín sớm. Cuối tháng 4 đầu tháng 5 đã có bán ở chợ. Điều dễ phân biệt là chùm hoa vải chua từ cuống đến các nụ hoa có phủ một lớp lông màu đen. Vải chua ra hoa đậu quả đều và năng suất ổn định hơn vải thiều. Trong nhóm giống vải chua này có những cây có ưu điểm như màu vỏ quả đẹp, ăn rất ngọt, quả to, như (ở vùng Thanh Oai: vàng anh, hoa hồng, cùi dừa, đường phèn...v.v...).

2. Vải nhỡ:Cây to hoặc trung bình, tán cây dựng đứng, lá to (cũng có cây lá nhỏ). Chùm hoa có độ dài và lớn trung gian giữa vải chua và vải thiều, có lông màu đen nhưng thưa hơn vải chua, trong số đó cũng có cây chùm hoa có lông màu trắng. Quả bằng quả vải chua loại nhỏ, hạt to. Phẩm chất quả kém vải thiều. quả chín giữa tháng 5 đến đầu tháng 6. Khi chín có giống vỏ quả vẫn có màu xanh, ở đỉnh quả có màu tím đỏ, ăn ngọt, ít chua.

3. Vải thiều: Có người gọi là vải Tàu vì họ cho rằng nguồn gốc của nó từ Trung Quốc, chỉ đúng có một phần vì có những giống được chọn lọc, nhân giống và phổ biến trong sản xuất hoàn toàn ở Việt Nam mà Trung Quốc không có hoặc không nói đến như vải Thanh Hà, Phú Hộ...

Do nhân giống bằng chiết cành nên các đặc tính sinh học, kinh tế tương đối ổn định, có độ đồng đều cao, dễ nhận dạng. Tán cây có hình tròn bán cầu, lá nhỏ, phiến lá dày, bóng phản quang. Để có thể ra hoa được đòi hỏi mùa đông nhiệt độ thấp. Những năm ít rét không ra không ra hoa hoặc ra hoa lẻ tẻ. Chùm hoa và nụ hoa không có lông nhung đen như ở vải chua mà có màu trắng (như trứng ếch). Quả nhỏ hơn quả vải chua, trung bình nặng 25 - 30g, hạt nhỏ hơn vải chua. Tỷ lệ ăn được cao hơn: 70 - 80%, chín muộn hơn vải chua. Quả chín vào đầu tháng 6. Ở Ninh Giang có chủng chín muộn hơn vào đầu tháng 7 và ở Hoàng Long lại có chủng chín sớm vào cuối tháng 5.

Các giống vải thiều gồm có: Vải thiều Thanh Hà là giống chủ lực được trồng rộng rãi ở nhiều tỉnh. Vải thiều Phú Hộ phạm vi trồng hẹp hơn. Ngoài ra còn có vải thiều Xuân Đỉnh, vải thiều Bố Hạ...,diện trồng rất hẹp hơn.

Bình luận