Đậu Nhật Xanh

Đậu Nhật Xanh (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae), là loài bản địa của Đông Á. Loài này giàu hàm lượng chất đạm protein, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc.

- Rễ: đậu Nhật Xanh là cây hai lá mầm có rễ cọc, rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 đến 40 cm, độ ăn lan khoảng 20 đến 40 cm. Trên rễ có các nốt sần cố định đạm do vi khuẩn cộng sinh Rhizobium japonicum. Nốt sần hữu hiệu là nốt sần khi cắt ra có màu hồng.

-Thân: đậu Nhật Xanh có màu xanh hoặc tím ít phân cành, có từ 14 -15 lóng, chiều cao cây trung bình từ 0,5 – 1,2 m.

- Lá: gồm có các dạng lá theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây: lá mầm, lá đơn và lá kép có 3 lá chét.

- Hoa: Hoa đậu nành thuộc hoa cánh bướm, mọc thành chùm trung bình mỗi chùm có từ 7 – 8 hoa, hoa có màu tím hoặc trắng.

- Trái: Thuộc loại quả nang tự khai, mỗi trái trung bình có từ 2đến 3 hạt, có khi có 4 hạt

- Hạt: hạt có hình tròn, bầu dục, tròn dẹp; màu vàng, vàng xanh, nâu đen. Trọng lượng hạt P100 hạt 7 – 25g.

Cây Đậu Nhật Xanh là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng. Sản phẩm từ cây đậu Nhật Xanh được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara... đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc.

Ngoài ra, trong cây đậu Nhật Xanh còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác. Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu.

Trong đậu Nhật Xanh có đủ các acid amin cơ bản isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Ngoài ra, đậu tương được coi là một nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các amino acid không thay thế cần thiết cho cơ thể.

Các thực phẩm làm từ đậu Nhật Xanh được xem là một loại "thịt không xương" vì chứa tỷ lệ đạm thực vật dồi dào, có thể thay thế cho nguồn đạm từ thịt động vật. Thậm chí, lượng đạm (protein) trong 100 gr đậu tương có thể tương đương với lượng đạm trong 800 gr thịt bò.

Tại các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, 60% lượng đạm tiêu thụ hằng ngày là do đậu tương cung cấp. Hàm lượng chất đạm chứa trong đậu tương cao hơn nhiều so với lượng chất đạm chứa trong các loại đậu khác.

Phân bổ

Quê hương của đậu Nhật Xanh là Đông  Á, nhưng 45% diện tích trồng đậu và 55% sản lượng đậu  của thế giới nằm ở Mỹ. 

Nước Mỹ sản xuất 75 triệu tấn đậu Nhật Xanh năm 2000, trong đó hơn một phần ba được xuất khẩu. 

Các nước sản xuất đậuNhật Xanh lớn khác là Brasil, Argentina, Trung Quốc và Ấn Độ. Phần lớn sản lượng đậu Nhật Xanh của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù tiêu thụ đậu Nhật Xanh ở người trên đất nước này đang tăng lên. 

Dầu đậu Nhật Xanh chiếm tới 80% lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ.

Cây đậu nành (miền Nam) hay còn được gọi là đậu tương (miền Bắc) có tên khoa học là Glycine max L. 

Ở miền Bắc nước ta đậu Nhật Xanh được trồng tập trung ở các tỉnh miền núi và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Hà Bắc… và Đồng Bằng Sông Hồng. 

Ở miền Nam đậu Nhật Xanh được trồng 3 vùng chính gồm: vùng Đông Nam Bộ các tỉnh trồng nhiều như Đồng Nai, Bình Thuận; vùng Tây Nam Bộ các tỉnh Đông Tháp, An Giang, Vỉnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng…; vùng Tây Nguyên có Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng.

Chăm sóc

1 Chọn giống

- Chọn các loại giống có triển vọng cho năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70-80 ngày như: MTĐ 176, OMĐN 1, ĐT 2000, ĐT 2006. Với các giống trên, nếu chăm sóc đúng kỹ thuật năng suất có thể đạt 2,5-3 tấn/hécta.

2. Chuẩn bị đất trồng

Trồng đậu có 2 cách làm đất, không làm đất:
- Không làm đất: Trồng trên nền đất lúa cần đốt gốc rạ và cỏ trước khi gieo sạ. Nếu gieo hạt bằng cách tỉa lỗ, nên sử dụng chày có đường kính 2cm làm lỗ trước khi gieo. Cách này ruộng phải thoát nước tốt khi có mưa nhiều.
- Làm đất: Xới đất cho tơi xốp, cứ 5m đào rãnh sâu 30cm và rộng 20cm để giúp cho việc tưới tràn thuận lợi và thoát nước tốt khi mưa nhiều.

3. Gieo hạt

- Nếu trồng đậu  theo cách chọc lỗ, mỗi lỗ bỏ 2-3 hạt, khoảng cách giữa các lỗ là 10cm, khoảng cách giữa các hàng 40cm. Lượng hạt giống cần cho phương pháp trồng bỏ lỗ là 60-70kg/hécta. Sau khi gieo hạt, dùng rơm phủ kín mặt ruộng để giữ độ ẩm, hạn chế cỏ dại phát triển, giảm công tưới và hạn chế xì phèn từ lớp đất dưới lên và giữ được lớp đất mặt không bị nén khi tưới. Ngoài ra, dùng rơm phủ, sau vụ đậu nành đất sẽ có thêm một lượng phân hữu cơ rất tốt cho cây trồng vụ sau.
- Để giảm bớt công lao động, nhiều nông dân dùng máy sạ đậu sạ theo hàng. Tuy nhiên, sạ hàng mật độ cây thường phân bố không đều nên khi làm cỏ, bón phân gặp khó khăn hơn.

4. Chăm sóc

- Tưới nước: Giai đoạn đầu cây đậu còn nhỏ chỉ nên tưới bằng vòi hoa sen. Khi cây được 15-20 ngày có thể tưới tràn. Khi tưới tràn không nên để rãnh đọng nước nhiều, cây sẽ sinh trưởng yếu và dễ phát sinh một số loại sâu bệnh. Đặc biệt, giai đoạn gần thu hoạch thường có mưa nhiều, bà con thường xuyên đi khơi các rãnh cho nước thoát nhanh, tránh ứ đọng nước trong ruộng sẽ làm hư trái. Cây đậu nành chịu hạn rất tốt nên nếu trời nắng thì 6-7 ngày mới tưới một lần.

- Làm cỏ: Sau khi rải hạt giống, dùng thuốc trừ cỏ Dual 720 EC để phun diệt cỏ suốt vụ. Liều lượng sử dụng là 1-1,2 lít/hécta. Nên phun thuốc diệt cỏ trước khi phủ rơm. Nếu trồng trên đất lúa, sau gieo hạt được 10-15 ngày nếu có nhiều lúa mọc lên bị rầy di chứng từ vụ lúa trước dùng thuốc Onecide hoặc Nabu để diệt.

- Bón phân: 1 hécta đậu  bón khoảng 100-110kg phân ure, 200-250kg phân lân và 60kg kali. Toàn bộ phân lân bón lót trước khi gieo trồng. Còn phân ure chia làm 3 lần bón cho cây. Lần 1 khi cây được 7 ngày bón khoảng 30-35kg ure. Lần 2 là lúc cây 15 ngày bón 50kg ure và lần thứ 3 bón hết số ure còn lại khi cây được 30 ngày. Phân kali bón làm 2 lần, lần 1 khi cây được 15 ngày bón 1/2 lượng kali, lần 2 bón hết vào trước khi cây ra hoa. Ngoài các loại phân bón trên, nếu có điều kiện, nông dân bón thêm khoảng 300-350kg vôi bột/hécta (bón lót với phân lân) để diệt một số mầm bệnh trong đất và giúp cây hấp thụ các loại phân bón tốt hơn.

5. Thu hoạch

- Khi thấy đa số trái đã chuyển sang màu xám hoặc đen là hạt đã chín già, có thể thu hoạch. Không nên để trái chín quá, khi thu hoạch trái sẽ bị nổ làm hạt bị thất thoát. Trước khi thu hoạch khoảng 5 - 7 ngày dùng dung dịch nước muối (pha 4kg muối hạt trong 32 lít nước và phun cho 1.000m2) để làm rụng bớt lá đậu nành. Dùng nước muối pha loãng phun trước khi thu hoạch đậu nành đỡ công thu hoạch, vận chuyển, công phơi và lá đậu nành rụng xuống ruộng để lại cho đất một lượng phân hữu cơ rất lớn.

- Có thể dùng máy tuốt lúa để ra hạt đậu nành, loại bỏ các hạt sâu, lép, tạp chất rồi phơi khô hoặc sấy còn độ ẩm khoảng 12-13%. Trường hợp dùng phương pháp thủ công để ra hạt thì phơi thật khô cả cây và quả để tỷ lệ hạt thất thoát ít và dễ bảo quản.

Món ăn

- Sữa đậu Xanh Nhật

- Đậu hũ chiên sả ớt

- Đậu Nhật Xanh luộc

Bệnh

Sâu hại 

+ Sâu đục quả (Prodenia litura)
-  Triệu chứng: Sâu phá hoại khicâycó quả non, hạt mới hình thành bị sâu đục không phát triển nữa.
-  Biện pháp phòng trừ sâu non: Phun thuốc sớm trừ sâu non bằng Surpacide 40ND, Dipterex. 
+ Sâu hại lá (sâu xanh, sâu khoang, sâu cuốn lá).
- Triệu chứng: Gây hại trênlá.
- Biện pháp phòng trừ: Dùng thuốc hoá học Sherpa, Polytrin,... 
+ Bọ xít xanh (Nezara viridula)
- Triệu chứng: Chích hút lá, quả làm lá sinh trưởng kém, quả lép, không chín được.
- Biện pháp phòng trừ: Dùng các loại thuốc hoá học Padan 95SP, Dipterex..

Bệnh hại

+ Bệnh rỉ sắt (Phakopsora sojae)
- Triệu chứng: Cây bị bệnh xuất hiện đốm nâu ở mặt dưới lá. Bào tử nấm phát triển trong vết bệnh làm giảm diện tích quang hợp của lá làm lá vàng, mất khả năng quang hợp, rụng sớm, làm giảm số lượng và trọng lượng hạt.
- Biện pháp phòng trừ: Có thể dùng các loại thuốc hoá học như Score 250ND, Zineb,... 
+ Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani)
- Triệu chứng: ở cổ rễ có một lớp sợi trắng, câybị vàng úa và bị chết.
- Biện pháp phòng trừ : Xử lý hạt giống bằng thuốc trừ nấm trước khi gieo.Phun Validacin, Anvil.
+ Bệnh đốm lá do nấm Sercostora
Gây hại tất cả các bộ phận trênmặt đất của cây. Bệnh xuất hiện khá muộn. Xuất hiện khi cây ở giai đoạn hình thành nụ cho tới khi thu hoạch. Một số nghiên cứu cũng cho thấy nếu hạn chế được nấm trên lá thì sẽ làm tăng năng suất 50-60%.
Biện pháp phòng trừ : Một số loại thuốc đã cho hiệu lực khá cao như Dapronin, Pamistin, Alvin, Tilt...
+ Một số bệnh khác như: Sương mai, đốm nâu hại lá... 

Tác dụng y học

1. Ngừa ung thư vú ở phụ nữ 

Một cuộc khảo sát của các nhà khoa học thuộc Đại học Georgetown (Mỹ) cho thấy bổ sung đậu Nhật Xanh ở mức độ vừa phải giúp giảm nguy cơ bị ung thư vú. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, dùng 3 khẩu phần đậu Nhật Xanh mỗi ngày đem lại nhiều ích lợi cho phụ nữ có nguy cơ hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư vú.

Bổ sung 20-133g protein từ đậu Nhật Xanh mỗi ngày có thể giúp giảm 7-10% hàm lượng cholesterol xấu LDL trong cơ thể.

2. Tác dụng trên tim mạch

Theo một cuộc khảo sát, bổ sung 20-133g protein từ đậu Nhật Xanh mỗi ngày có thể giúp giảm 7-10% hàm lượng cholesterol xấu LDL trong cơ thể. “Dùng đậu Nhật Xanh là một phần của chế độ dinh dưỡng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim”, Wahida Karmally – Giám đốc dinh dưỡng tại Viện Nghiên cứu Irving – nói.

Còn theo Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA), thêm 25g protein từ đậu Nhật Xanh mỗi ngày có tác dụng giảm lượng chất béo bão hòa, qua đó giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Các nhà khoa học thuộc Hội mãn kinh ở Bắc Mỹ đã kết luận: Đậu Nhật Xanh và các chất chiết từ đậu Nhật Xanh có tác dụng giảm huyết áp tâm trương, giảm cholesterol toàn phần, giảm cholesterol xấu (tức LDL-cholesterol), ngăn chặn sự tiến triển của các mãng xơ vữa, cải thiện tính đàn hồi của động mạch. Do đó, ở Mỹ, cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) từ năm 1999 đã cho phép dùng đậu Nhật Xanh để làm giảm nguy cơ động mạch vành.

3. Cung cấp đủ dưỡng chất

Các chuyên gia dinh dưỡng Mỹ khẳng định chế phẩm từ đậu Nhật Xanh rất giàu dinh dưỡng và ăn một khẩu phần đậu Nhật Xanh mỗi ngày giúp bổ sung đầy đủ dưỡng chất. “Đậu Nhật Xanh cung cấp nhiều chất quan trọng như kali, ma-giê, chất xơ, chất chống ô-xy hóa”, hãng tin New Kerala dẫn lời chuyên gia Katherine Tucker cho biết.

4. Điều trị chứng mãn kinh

Triệu chứng của mãn kinh khởi đầu từ 3-5 năm trước khi mãn kinh thực sự, tiếp tục tăng vào tuổi mãn kinh và 4-5 năm sau mãn kinh, chỉ ngừng khi cơ thể thích nghi với cân bằng hormon mới.Các triệu chứng thường thấy là bốc hỏa, đổ mồ hôi, mất ngủ, trầm cảm, đái dầm, lão hóa da, rụng tóc, bệnh tim mạch, suy giảm nhận thức…

Liệu pháp thay thế hormon có hiệu lực cao nhưng cũng có nhiều tai biến (rối loạn nội tiết, ung thư…) nên không kéo dài quá 5 năm. Phụ nữ phương Đông, so với các nước phương Tây, ít phàn nàn về các rối loạn của mãn kinh. Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các dân tộc phương Đông dùng nhiều đậu Nhật Xanh với nhiều cách chế biến khác nhau.

Gần đây, người ta phát hiện thấy trong hạt đậu Nhật Xanh có isoflarm còn gọi là estrogen thực vật (phytoestrogen); hoạt chất này góp phần làm cân bằng hormon ở phụ nữ mãn kinh, cải thiện rõ rệt các triệu chứng khác của tuổi mãn kinh như: Bốc hỏa, đổ mồ hôi đêm, trầm cảm, khô âm đạo…

5. Tác dụng chuyển hoá xương

Thống kê dịch tễ học cho thấy: Tỷ lệ gãy xương ở phụ nữ châu Á thấp hơn rõ rệt so với phụ nữ ở các nước phương Tây. Kết quả này có liên quan tới sử dụng nhiều thức ăn chế biến từ đậu Nhật Xanh. SI (isoflarm của đậu Nhật Xanh) làm tăng mật độ khoáng tại các đốt sống 1,2 đến 1,4 lần (so sánh với phụ nữ dùng thức ăn ít có đậu Nhật Xanh). Ở chuột thực nghiệm, SI làm giảm nguy cơ loãng xương do ức chế hoạt tính của hủy cốt bào, nên có tác dụng hiệp đồng chống tiêu xương.

Genistein trong đậu Nhật Xanh làm giảm nguy cơ ung thư bằng cách giảm sự tổn thương tế bào, và chất ức chế Protease BowmanBirk có trong Protein đậu Nhật Xanh, 

6. Tác dụng trên các khối u phụ thuộc và hormon

Thống kê dịch tễ học cũng cho thấy một số loại khối u phụ thuộc vào hormon (ở màng trong tử cung, ở vú, buồng trứng…) có tỷ lệ rất thấp ở phụ nữ châu Á. Nhận xét này có liên quan tới chế độ ăn giàu đậu Nhật Xanh ở công dân châu Á. Kết quả nghiên cứu về thực nghiệm và lâm sàng cho thấy SI (isoflarm ở đậu Nhật Xanh) có tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư ở tử cung, vú và buồng trứng. Hướng nghiên cứu này đang được tiếp tục.

7. Ung thư

Genistein trong đậu Nhật Xanh làm giảm nguy cơ ung thư bằng cách giảm sự tổn thương tế bào, và chất ức chế Protease BowmanBirk có trong Protein đậu Nhật Xanh cũng có thể ức chế sự khởi phát ung thư. Chất Daidzein trong Protein đậu Nhật Xanh, nếu được sử dụng với liều cao sẽ có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch, để phá hủy những chất có hại cho cơ thể, do đó có tác động lên việc giảm nguy cơ bị ung thư.

8. Xương khớp

Xương muốn chắc khỏe phải nhờ Calcium, nhưng điều quan trọng không phải là lượng Calcium đưa vào cơ thể, mà là cơ thể có giữ được Calcium lại đủ để làm cho xương chắc khỏe không?

Qua nghiên cứu, người ta thấy rằng những phụ nữ dùng nhiều đạm động vật sẽ gây mất Calcium qua nước tiểu, do đó sẽ có nguy cơ gãy xương nhiều hơn là những phụ nữ dùng Protein thực vật. Nghiên cứu cho thấy rằng dùng Protein đậu Nhật Xanh, đặc biệt là Isoflavones có thể có tác động tốt lên đậm độ khoáng trong xương ở những phụ nữ mãn kinh mà không dùng Ostrogen thay thế.

9. Đậu Nhật Xanh dùng trong dinh dưỡng và công nghiệp

Trong dinh dưỡng bột đậu Nhật Xanh trộn với bột ngũ cốc, dùng làm thức ăn cho trẻ sơ sinh, người bị bệnh đái tháo đường, bệnh gút… Trong công nghiệp dược, bột đậu Nhật Xanh dùng trong môi trường nuôi cấy kháng sinh. Thống kê cho thấy trong 100 ngàn tấn acid glutamic dùng trên thế giới, 1/3 do thủy phân đậu Nhật Xanh.

Do có sự cân bằng giữa tác dụng điều trị và độ an toàn, lại dễ sử dụng nên physoestrogen của đậu Nhật Xanh được xếp vào loại “chất bổ dinh dưỡng”, không cần đơn kê của thầy thuốc.

Giá trị kinh tế

Cây đậu Xanh Nhật có thời gian sinh trưởng ngắn, chi phí đầu tư thấp, năng suất cao. 

Cây có khả năng chống chịu sâu bệnh, thân cao, lá to, màu xanh đậm, phân cành tốt, sai quả, tỷ lệ 2 - 3 hạt/quả đạt từ 90 - 95%.

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cũng đơn giản, cây còn có nhiều lợi ích đối với sức khỏe, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân.

 

Bình luận